Từ Một Chiếc Thùng Xốp Đến Ngày Tôi Thành Luật Sư
Chương 2
Năm tôi sáu tuổi, nhà tôi mua một chiếc bàn học cũ.
Chiếc bàn bị mất một tay nắm ngăn kéo, ba tôi lấy một con ốc vít nhỏ còn dư từ mấy lần sửa điện thoại, vặn một viên bi thủy tinh vào thay tay cầm. Mẹ tôi chê xấu, bèn lấy sơn móng tay màu đỏ vẽ lên viên bi một khuôn mặt cười.
Chiếc bàn ấy đã ở bên tôi suốt những năm tiểu học, trung học cơ sở rồi đến tận trung học phổ thông.
Từ rất sớm, tôi đã bộc lộ chút năng khiếu học tập. Khi còn học lớp lớn ở trường mầm non, tôi đã có thể đọc hết bản dành cho trẻ em của Tam Quốc Diễn Nghĩa.
Cô giáo yêu cầu phụ huynh phối hợp dạy bọn trẻ ghép vần, nhưng ba mẹ tôi không có khả năng kèm tôi học. Vậy nên họ dứt khoát dời sạp đến gần cổng trường thêm nửa tiếng mỗi ngày, sau khi dọn hàng thì đưa tôi đến thư viện.
Ba tôi không biết nhiều chữ, nhưng mỗi lần tôi mượn sách, ông đều chụp từng trang lại, về nhà mở trợ lý giọng nói trên điện thoại rồi hỏi:
“Trang này nói gì vậy?”
Trợ lý giọng nói trả lời chẳng ra đầu ra đũa, ông liền chép tất cả những chỗ mình không hiểu ra giấy, hôm sau lại đứng chờ ở thư viện để hỏi thủ thư.
Ban đầu thủ thư còn tưởng ông đến gây chuyện, về sau phát hiện ông chỉ đang hỏi bài thay con gái, người ta mới làm cho tôi một chiếc thẻ tạm thời để vào phòng đọc.
Năm tôi mười tuổi, tôi tham gia cuộc thi toán cấp quận và giành giải Nhì.
Về đến nhà, tôi buồn bã nhét tờ giấy chứng nhận xuống tận đáy ngăn bàn.
Ba tôi phát hiện ra, ngồi xổm xuống bên cạnh tôi rồi hỏi:
“Đứng thứ hai không tốt sao?”
Tôi nói:
“Bạn đứng nhất hơn con sáu điểm.”
Ông suy nghĩ rất lâu, sau đó nghiêm túc nói:
“Vậy lần sau mình lấy thêm bảy điểm.”
Ông nói cứ như thể đang bàn chuyện đi chợ mua rau.
Tôi không nhịn được bật cười, nước mắt cũng theo đó mà rơi xuống.
Ngày hôm sau, tôi nhìn thấy trên bàn học có thêm một quyển vở ô vuông.
Bên trong là toàn bộ những bài toán tôi từng làm sai, được ba tôi chép lại bằng nét chữ xiêu xiêu vẹo vẹo. Có hai bài, ông còn chép nhầm cả đề, hình vẽ méo mó đến mức trông chẳng khác gì chiếc bánh bao vừa bị người ta giẫm lên.
Bên cạnh còn có những dòng nhắc nhở được ông dùng bút đỏ khoanh lại:
“Câu này phải làm chậm lại.”
“Không biết thì hỏi.”
“Đừng sợ mất mặt.”
Tôi cầm quyển vở đi tìm ông:
“Ba viết từ bao giờ vậy?”
Lúc ấy ông đang thay màn hình điện thoại cho khách, chẳng buồn ngẩng đầu lên:
“Có lâu đâu. Sau khi con ngủ.”
Tôi nhìn chằm chằm vào vết xước nhỏ trên mu bàn tay ông.
Đó là vết thương do lúc tháo vỏ điện thoại bị cứa vào.
Rõ ràng ngay cả phép nhân phân số ông còn tính rất chậm, thế mà ông lại nhớ rõ từng trang bài tập tôi làm sai.
Tôi đặt quyển vở trở lại trên bàn.
Về sau, nó ngày một dày lên.
Nhưng trang đầu tiên vẫn luôn giữ nguyên câu nói đầy lỗi chính tả của ba tôi:
Đừng sợ mất mặt.
4.
Năm mười hai tuổi, tôi gặp Lâm Tiểu Hòa.
Cậu ấy vừa chuyển đến lớp chúng tôi, mặc một bộ đồng phục rõ ràng không vừa người, khóa kéo cặp sách đã hỏng nên phải dùng kim băng ghim lại.
Có người cười giọng nói của cậu ấy nặng, còn có nam sinh ném cục tẩy của cậu ấy xuống cuối lớp.
Cậu ấy không khóc, chỉ cúi xuống nhặt.
Tôi rút quyển bài tập của nam sinh kia ra, đặt lên bục giảng rồi mỉm cười với cậu ta:
“Nếu ba mẹ cậu biết cậu xem việc bắt nạt người khác là bản lĩnh, chắc họ sẽ bất ngờ lắm.”
Nam sinh kia đỏ bừng mặt:
“Liên quan gì đến cậu?”
Tôi đáp:
“Cậu ấy ngồi cạnh tôi thì có liên quan đến tôi. Không phục thì đi tìm giáo viên đi. Vừa hay tôi cũng muốn hỏi xem nội quy lớp có phải chỉ quản những người học kém hay không.”
Từ hôm đó, Lâm Tiểu Hòa và tôi trở thành bạn.
Cậu ấy sống trong khu làng giữa thành phố, ba chạy xe chở hàng, mẹ rửa bát ở nhà hàng.
Cậu ấy học không chậm, chỉ là trước đây chuyển trường quá nhiều nên kiến thức nền bị đứt quãng khá nghiêm trọng.
Tôi giúp cậu ấy học bù, còn cậu ấy dạy tôi cách gấp những chiếc hộp giấy bỏ đi thành hộp đựng đồ.
Tay cậu ấy rất khéo, đến cả túi nilon của cửa hàng tiện lợi cũng có thể đan thành một con thỏ nhỏ.
Ba mẹ tôi biết chuyện thì coi cậu ấy như đứa con thứ hai trong nhà.
Mỗi tối lúc xào mì, mẹ tôi luôn tiện tay để riêng một phần không cay.
Ngoài miệng bà nói:
“Đừng hiểu lầm, làm dư rồi bỏ thì phí.”
Nhưng chỉ cần Lâm Tiểu Hòa hai ngày liền không đến, bà sẽ lái xe ba bánh đến tận dưới nhà cậu ấy, vừa đi vừa mắng ba tôi:
“Anh chạy nhanh lên, đừng để con bé đói.”
Ba tôi sửa khóa kéo cặp sách cho Lâm Tiểu Hòa, chỉ thu một tệ tiền công.
Lâm Tiểu Hòa nhất quyết nhét cho ông năm tệ, ông lại nhét bốn tệ trở vào hộp bút của cậu ấy:
“Cứ để dành đi. Sau này thành nhà văn lớn rồi thì mời chú một bữa thật ngon.”
Lâm Tiểu Hòa thích viết truyện.
Cậu ấy viết về từng căn nhà thuê mà mình từng chuyển qua, viết về đôi tay của mẹ mình ngâm trong dầu mỡ và khói bếp để rửa bát, còn viết về một cô bé gửi thư cho mặt trăng.
Tôi nói sau này nhất định cậu ấy sẽ xuất bản sách.
Cậu ấy dùng bút chì chọc tôi:
“Thế còn cậu?”
Tôi nghĩ một lúc:
“Tôi muốn học luật.”
“Tại sao?”
“Vì có rất nhiều người nói chuyện chẳng có lý, nhưng cứ nghĩ giọng mình lớn thì mình đúng.”
Cậu ấy cười đến mức không đứng thẳng nổi:
“Tống Kiến Vi, câu này của cậu giống hệt dì Hứa.”
Tôi về nhà kể lại cho mẹ nghe, bà đắc ý vô cùng, lập tức gắp thêm cho tôi hai quả trứng rán:
“Nghe thấy chưa? Con gái anh có tiền đồ rồi đấy, đến mắng người cũng biết nói lý.”
5.
Học kỳ đầu năm lớp Tám, cha ruột tìm đến tôi.
Hôm ấy là thứ Sáu, bầu trời xám xịt như một chiếc giẻ chưa được giặt sạch.
Tôi vừa đi tới cổng trường thì nhìn thấy một chiếc xe màu đen đỗ bên đường. Bên cạnh xe là một người đàn ông mặc vest xám, tóc chải chỉnh tề không một sợi rối, trong tay cầm một tấm ảnh của tôi.
Ông ta tên là Chu Kính Xuyên.
Ông ta nhìn tôi rất lâu, câu đầu tiên mở miệng lại là:
“Con rất giống mẹ con hồi còn trẻ.”
Tôi nói:
“Chú nhận nhầm người rồi. Mẹ tôi bán mì xào ở chợ đêm.”
Ông ta khựng lại, dường như không ngờ tôi sẽ trả lời như vậy.
Nữ trợ lý phía sau đưa tới một tấm danh thiếp, giọng điệu vô cùng khách sáo:
“Ông Chu đã tìm cháu rất nhiều năm. Chuyện lúc cháu chào đời khá phức tạp, ông ấy hoàn toàn không biết đến sự tồn tại của cháu.”
Tôi không nhận danh thiếp:
“Bây giờ biết rồi thì muốn thế nào?”
Chu Kính Xuyên nói rằng năm đó vợ ông ta giấu ông ta đem đứa trẻ cho đi, mãi đến trước khi bệnh nặng qua đời mới để lại manh mối.
Những năm qua ông ta vẫn luôn tìm tôi.