Tôi Có Tám Người Anh Trai

Chương 2



“Anh biết mà.”

Tôi ngẩng lên.

Anh cố cười.

Nhưng khóe miệng vừa cong lên, nước mắt đã rơi xuống.

“Ninh Ninh nhà mình…”

“Đi đâu cũng sẽ không thua người ta.”

Tôi còn chưa kịp nói gì.

Anh hai đã khóc trước.

Sau đó anh năm khóc theo.

Anh tám ôm đầu vừa khóc vừa cười.

Chưa đầy một phút, tám người đàn ông trưởng thành khóc thành một đám.

Những người ngày thường bị d//ao cứa tay cũng chỉ quấn băng rồi tiếp tục làm việc.

Người bị khách hàng gây khó dễ còn có thể cười nói chuyện cả buổi.

Người phá sản lần đầu cũng chưa từng để người khác nhìn thấy mình đỏ mắt.

Bây giờ lại chen nhau trong căn phòng nhỏ, khóc đến chẳng còn chút hình tượng.

Tôi ngồi trên ghế.

Nhìn một vòng.

Cuối cùng không nhịn được nói:

“Các anh đừng khóc nữa được không?”

“Xấu hổ quá.”

Anh cả mặc kệ tôi.

Anh lau nước mắt bằng mu bàn tay, vừa khóc vừa cười.

“Bọn anh hồi nhỏ học hành chẳng ra sao.”

“Có đứa lớp tám còn phải học lại.”

“Có đứa bị gọi phụ huynh nhiều đến mức bà thuộc luôn đường lên phòng giáo vụ.”

Anh hai ở bên cạnh lập tức phản bác:

“Người học lại là anh sáu.”

Anh sáu vừa khóc vừa đá anh một cái.

“C//âm miệng.”

Anh cả lại cười.

“Thế mà…”

“Thế mà bọn anh cũng nuôi được một đứa giỏi như vậy.”

Từ đầu đến cuối, bà nội đều ngồi bên cửa sổ.

Bà đã tám mươi tuổi.

Lưng còng hơn trước.

Mái tóc bạc trắng.

Trên tay vẫn cầm chiếc quạt lá cọ cũ.

Nghe đến đó, bà bỗng khép quạt lại.

Đầu gậy gõ xuống nền nhà.

Cốc.

Không lớn.

Nhưng tất cả đều im.

Bà nhìn anh cả.

“Bọn anh là loại người gì?”

Anh cả sững ra.

Bà lại hỏi:

“Ngày trước học kém thì không phải người tốt à?”

“Ngày trước từng gây chuyện thì cả đời không ngẩng đầu lên được à?”

Không ai dám trả lời.

Ánh mắt đã mờ đục theo năm tháng của bà lần lượt nhìn qua tám người đàn ông.

Nhìn anh cả từng là đứa trẻ cứng đầu nhất.

Nhìn anh hai.

Anh ba.

Rồi từng người một.

Sau cùng bà mỉm cười.

“Các con đều tự nuôi sống được mình.”

“Không tr//ộm không c//ướp.”

“Có năng lực còn biết giúp người.”

“Nuôi em gái cũng chưa từng để nó chịu thiệt.”

Bà chống hai tay lên đầu gậy.

“Ở chỗ bà.”

“Các con chẳng có ai thấp hơn người khác.”

02

Thật ra, bà nội chưa từng thật sự là bà nội của bất kỳ ai trong chúng tôi.

Bà họ Tống.

Tên Tống Tú Lan.

Khi còn trẻ, bà làm việc tại một trung tâm bảo trợ trẻ em của thành phố.

Ban đầu phụ trách nhà bếp.

Sau đó thiếu người, bà lại giúp trông trẻ.

Bà từng nói, cả đời mình chẳng có bản lĩnh lớn gì.

Chỉ giỏi hai việc.

Nấu cơm.

Và dỗ trẻ con.

Sau khi nghỉ hưu, bà đăng ký trở thành gia đình chăm sóc thay thế.

Cũng từ lúc đó, căn nhà nhỏ của bà lần lượt xuất hiện thêm từng đứa trẻ.

Anh cả Tống Dã là người đầu tiên.

Năm anh mười hai tuổi, cha mẹ qua đời trong một vụ t//ai n//ạn.

Nhà cửa và tiền bồi thường khiến họ hàng tranh nhau đến đỏ mắt.

Nhưng đến lúc hỏi ai nhận nuôi đứa trẻ thì không một ai lên tiếng.

Anh hai Hạ Thành được đưa đến sau đó hai năm.

Cha anh vì gây th//ương t//ích nghiêm trọng mà phải vào t//ù.

Mẹ bỏ đi cùng người khác.

Cậu bé mười tuổi sống một mình hơn nửa tháng, mỗi ngày chỉ uống nước lã và ăn mì khô.

Anh ba Phó Minh sống với mẹ và cha dượng.

Cha dượng ngh//iện rượu.

Mỗi lần say đều trút giận lên người trong nhà.

Ngày được đưa đi, trên lưng anh gần như chẳng còn chỗ nào nguyên vẹn.

Những người còn lại cũng chẳng khá hơn.

Có người bị bỏ lại ở bến xe đường dài.

Có người theo ông nội sống được vài năm thì ông qua đời.

Có người cha mẹ mất sớm, phải ngủ ở chợ đêm, ban ngày nhặt chai nhựa đổi lấy đồ ăn.

Ngày ấy, người trong khu phố rất không thích việc bà đưa từng đứa về.

Bọn trẻ ấy vừa gầy vừa hung.

Ánh mắt nhìn người lúc nào cũng đầy cảnh giác.

Mở miệng là cãi.

Động chút là giơ nắm đấm.

Hàng xóm sau lưng gọi họ là “đám trẻ hoang”.

Có lần một người phụ nữ còn đứng ngay trước cổng nói:

“Bà Tống, bà già rồi mà còn chuốc khổ vào thân.”

“Nuôi mấy đứa ngoan còn được.”

“Toàn nhặt mấy đứa này về, sau này chúng nó gây chuyện bà chịu nổi không?”

Bà đang phơi chăn.

Nghe vậy, bà từ từ đặt cây sào xuống.

“Đứa này là đứa nào?”

Người kia chỉ vào anh hai.

“Chẳng hạn nó.”

“Cha ở t//ù, mẹ bỏ đi.”

“Bà nuôi nó làm gì?”

Bà nhìn bà ta rất lâu.

Rồi nói:

“Cha nó phạm lỗi.”

“Không phải nó.”

Người kia cứng họng.

Bà lại tiếp tục:

“Nó không có người cần.”

“Vậy từ hôm nay tôi cần.”

Từ đó chẳng ai dám nói câu ấy trước mặt bà nữa.

Nhưng mấy người anh hồi nhỏ chẳng hề vì vậy mà lập tức ngoan ngoãn.

Ngược lại.

Họ khó quản đến mức khiến giáo viên trường gần nhà vừa thấy bà đã thở dài.

Anh cả từng nửa đêm trèo cửa sổ bỏ đi.

Bà phát hiện lúc ba giờ sáng, chống gậy đi bộ gần hai cây số, cuối cùng tìm thấy anh đang ngủ ở quán net.

Bà không mắng.

Chỉ đứng ngoài cửa nói:

“Về nhà.”

Anh cả cứng đầu.

“Không về.”

Bà gật đầu.

“Được.”

“Bà ngồi đây đợi.”

Thế là bà thật sự kéo chiếc ghế nhựa ngoài quán, ngồi chờ đến khi trời sáng.

Anh cả nhìn mái tóc bà bị sương đêm làm ướt, cuối cùng tự mình cúi đầu đi theo về.

Anh hai từng cùng bạn học đ//ánh nhau.

Đối phương phải khâu bốn mũi.

Bà đưa anh đến bệnh viện.

Tự mình trả tiền viện phí.

Sau đó b//ắt anh đứng trước giường bệnh xin lỗi.

Anh nhất quyết không chịu.

Bà cũng không ép.

Chỉ nói:

“Không xin lỗi thì hôm nay bà với con cùng đứng đây.”

Cuối cùng anh đứng hơn ba giờ, vẫn phải cúi đầu.

Anh năm từng cố tình ném vỡ chiếc bát trong bếp.

Cậu ta khi ấy mới đến chưa đầy một tháng.

Sau khi ném xong còn nhìn chằm chằm bà.

Giống như đang chờ bà nổi giận.

Chờ bà nói:

“Cút đi.”

Nhưng bà chỉ nhìn mảnh sứ dưới đất.

Rồi đưa chổi cho anh.

“Tự quét.”

Anh đứng im.

Bà nói:

“Muốn tức thì cứ tức.”

“Nhưng bát là con làm vỡ.”

“Con phải dọn.”

Sau đó bà đưa tiền cho anh mua một chiếc bát mới.

Không phải cho không.

Anh phải giúp hàng rau ngoài chợ chuyển rau ba buổi để kiếm lại số tiền ấy.

Bà không chiều họ.

Có lỗi là phạt.

Làm sai là sửa.

Nợ người khác thì phải trả.

Nhưng bà có một nguyên tắc.

Bất kể ban ngày xảy ra chuyện gì.

Buổi tối chỉ cần về nhà, nhất định sẽ có cơm.

Có lần anh ba bị phạt đứng ngoài sân hai tiếng.

Trời mùa đông lạnh đến đỏ cả mũi.

Đến giờ ăn, bà vẫn mở cửa.

“Vào ăn.”

Anh ba không nhúc nhích.

Bà cau mày.

“Bà phạt con đứng.”

“Không phạt con nhịn đói.”

Trong căn phòng chính của nhà bà có một tấm bảng gỗ.

Trên đó không treo gia huấn.

Cũng chẳng có lời đạo lý cao siêu.

Chỉ có ba dòng chữ do bà tự tay viết.

Thứ nhất.

“Không được lấy thứ không thuộc về mình.”

Thứ hai.

“Có sức thì không được dùng sức b//ắt n//ạt người yếu.”

Thứ ba.

“Có chuyện gì cũng được, tối phải biết đường về nhà.”

Chương trước Chương tiếp
Loading...