Ngủ Nhầm Bạch Nguyệt Quang

3



Tôi lật gối lại, nhắm mắt.

Thôi được rồi. Chẳng phải chỉ là tình một đêm thôi sao.

Bước qua đi. Bắt đầu từ ngày mai, lại tiếp tục làm kiếp nô lệ tư bản từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, đấu trí đấu dũng với khách hàng, bị ép sửa bản thảo đến phát điên, quay về với cuộc sống nhỏ bé bận rộn mà bình yên của mình.

Cái tên Thẩm Trục Dã, con người này, cứ coi như một ảo ảnh trong ba ly cocktail đêm qua vậy.

Thế nhưng Ôn Hạ ngàn vạn lần không ngờ tới, cô thậm chí còn chẳng đợi được đến “từ ngày mai”.

Ngay chiều hôm đó, ảo ảnh ấy đã đập nát toàn bộ mộng tưởng “bước qua” của cô.

***

8 giờ rưỡi sáng thứ Hai, tôi chạy vắt chân lên cổ lao vào cổng công ty cho kịp giờ, tay xách cốc sữa đậu nành và cái bánh bao mua dưới lầu.

Tiểu Trần ở quầy lễ tân nhìn thấy tôi, từ xa đã vẫy tay gọi: “Chị Ôn Hạ! Sếp Lâm bảo chị tới công ty thì vào văn phòng của sếp ngay, hình như có chuyện gì quan trọng lắm.”

“Được, cảm ơn em.” Tôi tiện miệng đáp, đặt bữa sáng lên bàn làm việc, bưng ly nước uống một ngụm, rồi đi về phía văn phòng của sếp sòng phòng thiết kế.

Dọc đường đi tôi vẫn đang thắc mắc, có phải phương án trung tâm thương mại đợt trước lại bị trả về yêu cầu sửa lại không? Hay là khách hàng dự án nào lại đột ngột thay đổi ý định? Tháng này tôi đã bị khách hàng hành hạ thê thảm lắm rồi, xin đừng mọc thêm yêu râu xanh nào nữa.

Đẩy cửa văn phòng sếp Lâm ra, ông ấy đang ngồi trước bàn trà pha trà, nụ cười trên mặt khi thấy tôi bước vào nhiệt tình đến mức chẳng giống ông ấy ngày thường.

“Tiểu Ôn tới rồi à, ngồi đi ngồi đi.” Sếp đích thân rót cho tôi một chén trà, đẩy đến trước mặt.

Những lá trà Long Tỉnh dựng đứng trong chén, nhìn qua là biết trà ngon sếp cất giữ.

Bình thường sếp Lâm chỉ pha loại trà này khi tiếp khách hàng quan trọng. Trong lòng tôi chợt chùng xuống, có dự cảm chẳng lành.

“Sếp Lâm, sếp tìm em có việc ạ?”

“Có việc, hơn nữa còn là chuyện tốt.” Sếp Lâm cười híp mắt xoa xoa tay, ngồi lại ghế của mình, lấy một tệp tài liệu trên bàn đưa cho tôi, “Công ty chúng ta đang đàm phán một dự án lớn, thiết kế nội thất tổng thể cho khu phố văn hóa sáng tạo Lâm Giang.

Quy mô rất lớn, cả khu phố có mười bảy tòa kiến trúc cũ cần cải tạo, cộng thêm một quảng trường văn hóa ven sông mới xây.

Khu đất này là dự án chỉnh trang đô thị được quan tâm nhất ở Phụng Thành mấy năm gần đây, chính quyền thành phố cực kỳ coi trọng, giới truyền thông cũng luôn theo dõi sát sao.”

Tôi nhận lấy tài liệu mở ra xem. Khu phố văn hóa Lâm Giang, dự án này tôi đã nghe danh từ lâu.

Phụng Thành vốn là một thành phố công nghiệp cũ, mấy năm nay luôn chuyển hướng sang du lịch văn hóa.

Khu bến tàu cũ và dãy nhà kho thời Dân Quốc ven sông là quần thể kiến trúc lịch sử còn nguyên vẹn nhất của Phụng Thành. Chính quyền muốn cải tạo nơi đó thành tổ hợp thương mại văn hóa sáng tạo mang tính biểu tượng của cả tỉnh.

Dự án này tôi từng thấy trên bản tin chuyên ngành, rất nhiều công ty thiết kế đều nhòm ngó muốn ôm lấy, cạnh tranh vô cùng khốc liệt.

“Nếu giành được dự án này, mục tiêu doanh số năm nay của công ty chúng ta coi như vượt mức hoàn thành.”

Sếp Lâm nói tiếp, ánh mắt sáng rực, “Hơn nữa phía chính phủ còn dự định nộp dự án này tham gia giải thưởng thiết kế quốc tế vào năm sau, nếu đoạt giải thì đó sẽ là cú hích cực lớn cho cả công ty lẫn cá nhân nhà thiết kế.”

“Nên sếp gọi em…”

“Tôi tiến cử cô làm nhà thiết kế chính.” Sếp Lâm nâng chén trà lên nhấp một ngụm.

“Công ty chúng ta tuy không thiếu những nhà thiết kế lão làng, nhưng phía đối tác đã chỉ định rõ muốn một đội ngũ trẻ tuổi, họ nói những phương án tràn đầy sức sống mới phù hợp với định vị của khu văn hóa sáng tạo. Trước đây họ đã gặp năm công ty thiết kế rồi, đều không ưng ý, bảo là phương án của người ta ‘chưa bắt được cái hồn mà họ muốn’. Tôi suy đi tính lại, cô tuy tuổi nghề không phải sâu nhất, nhưng phong cách thiết kế của cô luôn táo bạo nhất, có nhiều ý tưởng nhất công ty. Dự án hiệu sách độc lập lần trước cô làm rất xuất sắc, khách hàng đến giờ vẫn còn đang khen ngợi.”

Tim tôi bắt đầu đập loạn nhịp. Không phải vì căng thẳng, mà là vì phấn khích.

Độc lập phụ trách một dự án khu văn hóa sáng tạo lớn, đây là ước mơ của tôi từ khi bước chân vào nghề thiết kế.

Trước kia tôi toàn làm nền phụ việc cho người khác, phương án làm dù tốt đến mấy cũng chưa bao giờ thực sự tự tay dẫn dắt một dự án lớn. Cơ hội lần này quả thực là chiếc bánh từ trên trời rơi xuống.

“Cảm ơn sếp Lâm! Em nhất định sẽ làm thật tốt!” Tôi siết chặt tệp tài liệu trong tay, giọng nói khẽ run lên vì kích động.

“Đừng vội cảm ơn tôi, đơn này không dễ xơi đâu.” Sếp Lâm xua tay, “Ông chủ của đối tác mắt nhìn rất khắt khe, nghe nói là một người trẻ tuổi, có xuất thân du học về, yêu cầu thiết kế cực cao. Cô cầm tài liệu về nghiên cứu trước đi, chiều thứ Tư chúng ta cùng qua công ty họ thuyết trình dự án. À đúng rồi, công ty đối tác tên là ‘Văn hóa Trục Dã’, mấy năm nay làm mưa làm gió trong mảng văn hóa sáng tạo, đứng sau còn có quỹ đầu tư Trục Quang, tiềm lực tài chính rất mạnh.”

Văn hóa Trục Dã. Trục Dã.

Nụ cười trên mặt tôi cứng đờ lại trong tích tắc. Có một sợi dây đàn trong lòng bị gảy nhẹ, phát ra một âm thanh lạc điệu.

Nhưng tôi lập tức tự an ủi mình. Sẽ không đâu, Phụng Thành rộng như vậy, công ty văn hóa nhiều như thế, sao có thể tình cờ là công ty của anh ta được.

Hơn nữa cái tên “Trục Dã” cũng đâu phải là hàng hiếm, biết đâu chỉ là trùng hợp. Lại nói, anh ta học tài chính cơ mà, làm văn hóa sáng tạo cái gì chứ?

“Tôi sẽ gửi file cho cô qua email công ty, cô hãy làm quen với bối cảnh dự án và thông tin của công ty đối tác trước nhé. Đặc biệt là những dự án trước đây của Văn hóa Trục Dã, cô xem cho kỹ, để cảm nhận gu thẩm mỹ của họ.”

Sếp Lâm vỗ vỗ vai tôi, “Đi chuẩn bị đi, hai giờ chiều thứ Tư, chúng ta sang Văn hóa Trục Dã trình bày phương án.”

“Vâng, sếp Lâm.”

Tôi ôm tài liệu đi ra khỏi văn phòng, về chỗ ngồi, nóng lòng mở máy tính đăng nhập hòm thư.

Tệp nén sếp Lâm gửi sau khi giải nén là một đống tài liệu, bao gồm bản vẽ quy hoạch dự án, dữ liệu khảo sát kiến trúc cũ, hồ sơ phê duyệt của chính phủ, cùng với hồ sơ giới thiệu và các dự án tiêu biểu của Văn hóa Trục Dã.

Tôi mở file PDF hồ sơ công ty Văn hóa Trục Dã trước. Bìa là một bức ảnh đen trắng, chụp bến tàu cũ của Phụng Thành. Lật trang đầu tiên, dưới logo công ty là bốn chữ – “Tái sinh ký ức”, đó là Slogan của họ. Cuộn xuống thêm chút nữa, là phần giới thiệu người sáng lập.

**Thẩm Trục Dã.**

Ba chữ, font chữ Khải in đậm, in trên giấy láng, rõ ràng rành rọt.

Tôi nhìn chằm chằm ba chữ đó suốt ba mươi giây. Thế giới dường như bị nhấn nút tắt tiếng ngay khoảnh khắc này.

Trong văn phòng, tiếng đồng nghiệp gõ phím, tiếng chuông điện thoại, tiếng máy pha cà phê hoạt động trong phòng pantry, tất thảy đều biến mất. Bên tai tôi chỉ còn lại tiếng ù ù vang dội.

*Tốt nghiệp trường Kinh doanh hàng đầu trong nước, sau đó tu nghiệp tại nước ngoài, lấy bằng Thạc sĩ kép ngành Thiết kế đô thị và Quản lý.*

*Về nước gia nhập quỹ Đầu tư Trục Quang, một năm sau từ chức thành lập Văn hóa Trục Dã, tập trung vào việc phát triển và vận hành các dự án chỉnh trang đô thị và thương mại văn hóa sáng tạo.*

*Các dự án đã triển khai bao gồm: Khu văn hóa nhà xưởng cũ Lâm Thành, Quần thể homestay chủ đề 24 tiết khí Nam Châu, Không gian văn hóa bưu điện Dân Quốc Phụng Thành… đều trở thành các dự án du lịch văn hóa tiêu biểu của khu vực.*

Bên dưới lý lịch cá nhân đính kèm một bức ảnh doanh nhân. Vest đen, sơ mi trắng, đứng trên bục của một diễn đàn chuyên ngành nào đó, hơi nghiêng người về phía micro.

Ánh đèn từ phía sau lưng anh hắt tới, mạ lên toàn thân anh một quầng sáng tông lạnh. Khuôn mặt đó, và khuôn mặt tôi nhìn thấy sáng nay, khuôn mặt say ngủ trên chiếc gối khách sạn, chính là cùng một người.

Tôi nhắm mắt lại, rồi mở ra. Không thay đổi. Vẫn là Thẩm Trục Dã.

Tay tôi bắt đầu run rẩy. Không phải vì căng thẳng, mà là một cảm giác bất lực sâu thẳm vì bị số phận trêu đùa.

Tôi vừa mới dõng dạc nói với bản thân rằng, Phụng Thành rộng như vậy, tôi cứ trốn đi là được. Thế mà ngay ngày hôm sau, anh ta đã trở thành khách hàng (Bên A) của tôi. Hơn nữa lại còn là một dự án lớn mà tôi buộc phải dốc toàn lực để giành lấy.

Điện thoại rung lên, An An gửi tin nhắn: 【Thế nào, tâm trạng đi làm ngày thứ Hai vẫn ổn chứ? Vẫn còn đang nghĩ đến Thẩm Trục Dã à?】

Tôi đáp: 【Không cần nghĩ nữa. Giờ anh ta là Bên A của tớ rồi.】

An An trả lời ngay lập tức bằng 20 dấu chấm hỏi, rồi là một cuộc gọi thoại.

Tôi cúp máy, gõ phím: 【Đang ở công ty không tiện nói chuyện. Nói tóm lại là, công ty đang giành một dự án lớn, Bên A là công ty của cậu ta. Thứ Tư tớ sẽ qua công ty cậu ta để trình bày dự án.】

An An gửi đến một tràng “Hahahahahaha”, rồi chốt lại một câu: 【Cậu xong đời rồi Ôn Hạ. Ông trời cũng không độ được cậu. Chờ xem, biểu cảm ngày thứ Tư của cậu chắc chắn sẽ đặc sắc lắm.】

Tôi chẳng còn tâm trạng đấu võ mồm với cô ấy, úp điện thoại xuống bàn, hít sâu vài hơi, ép bản thân kéo sự chú ý trở lại đống tài liệu dự án.

Dù Bên A là ai, tôi nhất định phải giành được dự án này. Đây là cơ hội chứng minh bản thân, không liên quan gì đến Thẩm Trục Dã cả.

Đúng, thứ liên quan là bản thân dự án. Tôi chỉ là một nhà thiết kế chuyên nghiệp, anh ta là khách hàng, mối quan hệ của chúng tôi hoàn toàn dựa trên cơ sở hợp đồng giữa Bên A và Bên B, không xen lẫn bất kỳ yếu tố cá nhân nào.

Tôi tự nhẩm điều này ba lần trong đầu, cảm giác như mình sắp tin sái cổ luôn rồi.

Sau đó, tôi lại bấm mở bức ảnh doanh nhân kia ra, phóng to mặt Thẩm Trục Dã. Người trong ảnh trông gầy hơn hồi cấp ba một chút, gò má lộ rõ hơn, đường xương quai hàm sắc lẹm như dao gọt.

Khóe miệng hơi cong lên, nhưng ý cười không chạm đến đáy mắt. Đôi mắt ấy xuyên qua bức ảnh nhìn tôi, khiến tôi nhớ đến dáng vẻ anh ngồi xổm ngước lên nhìn tôi trong phòng khách sạn sáng nay.

Tôi “cạch” một tiếng gập laptop lại, vùi mặt vào lòng bàn tay.

Ôn Hạ, mày rốt cuộc đang nghĩ cái gì vậy?

***

Hai ngày tiếp theo, tôi tự nhốt mình trong phòng họp nhỏ của công ty, ngoài ăn uống và đi vệ sinh, gần như toàn bộ thời gian tôi đều dành để làm phương án.

Tôi đã xem qua toàn bộ các dự án tiêu biểu trước đây của Văn hóa Trục Dã.

Khu văn hóa sáng tạo cải tạo từ nhà xưởng cũ ở Lâm Thành, họ đã xử lý phun cát lại hệ khung thép gỉ sét rồi để lộ ra ngoài, biến nó thành yếu tố cốt lõi về thị giác trong nhà.

Quần thể homestay ở Nam Châu, họ đã biến hai mươi tư tiết khí thành hai mươi tư khoảng sân độc lập, thiết kế cảnh quan và bố cục không gian của mỗi sân đều tương ứng với sự thay đổi của thời tiết.

Còn có một dự án thiết kế không gian bưu điện thời Dân Quốc ở Phụng Thành giai đoạn đầu, giữ lại quầy giao dịch bọc tôn sắt và điện thoại quay tay năm xưa, biến đoạn lịch sử viễn thông đó thành một không gian trải nghiệm nhập vai.

Mỗi một dự án đều phát ra một tín hiệu rõ ràng: Nhóm thiết kế này không thích kiểu phô trương, phù phiếm không có cội rễ.

Họ cần những tác phẩm có thể tạo ra sự đồng điệu với lịch sử thành phố, cần những không gian có nhiệt độ, có câu chuyện, có thể khiến người bước vào cảm nhận được ký ức.

Tôi đã  phân tích những case này hết lần này đến lần khác, đúc kết ra những từ khóa cốt lõi trong gu thẩm mỹ của họ: Ký ức, Nhiệt độ, Tính tự sự, Tính bản địa. Sau đó, tôi bắt tay vào làm phương án của mình.

Phụng Thành là một thành phố công nghiệp cũ, đi lên từ vận tải thủy và sản xuất cận đại. Bến tàu khu Lâm Giang từng là một trong những trung tâm thủy bộ nhộn nhịp nhất của toàn vùng Hoa Đông.

Thời Dân Quốc, trên mặt sông cột buồm san sát như rừng, hình ảnh công nhân bến tàu hô hào khẩu hiệu khuân vác hàng hóa là dấu ấn đô thị sâu sắc nhất trong lòng những người Phụng Thành xưa.

Về sau, cùng với sự trỗi dậy của đường sắt và đường cao tốc, giao thông đường thủy suy yếu, bến tàu dần bị bỏ hoang. Nhưng những nhà kho gạch đỏ, đường ray xe lửa, sà lan và lối đi lát đá dăm ven sông vẫn đứng im lìm ở đó, lặng lẽ như một nhóm cựu binh già.

Tôi muốn dùng “Ký ức” làm ý tưởng cốt lõi, nhưng không chỉ dừng lại ở sự hoài niệm. Tôi muốn những kiến trúc cũ đó sống lại trong một công năng mới.

Nhà kho bến tàu cải tạo thành bảo tàng ký ức đô thị trải nghiệm nhập vai, lối đi vào được thiết kế giống với cầu ván bến tàu năm xưa, để người tham quan khi bước lên có thể trải nghiệm cảm giác của những công nhân bến tàu cõng hàng ngày ấy.

Vách ngăn trong nhà dùng gỗ từ thuyền cũ tái chế và dây thừng bện lại với nhau, ánh sáng mô phỏng hiệu ứng phản chiếu của sóng nước trên mặt sông.

Những viên gạch lát trên quảng trường khắc lên những dấu vết mà công nhân bến tàu xưa để lại. Nghe nói nhiều năm về trước, mỗi khi khiêng xong một chuyến hàng, công nhân sẽ vạch một vết khắc lên tường hoặc xuống nền đất.

Tôi còn muốn đưa vào một số yếu tố tương tác.

Ví dụ như đặt một thiết bị âm thanh ở lối vào bảo tàng ký ức đô thị, phát lại tiếng hò dô của công nhân bến tàu, tiếng còi tàu thủy, tiếng nước sông đập vào bờ.

Tại mỗi nút giao không gian quan trọng, đặt một “Lát cắt thời gian”. Dùng tấm acrylic trong suốt phong ấn một bức ảnh lịch sử hoặc một hiện vật thực tế của bến tàu cũ, để người tham quan trong quá trình dạo bước có thể không ngừng xuyên không qua những

khe hở của thời gian.

Đây là một phương án rất tham vọng. Nhưng thú thật, khi bắt tay vào làm tôi lại cảm thấy không chắc chắn.

Vì phong cách thiết kế “thiên về cảm xúc” này hoàn toàn khác biệt với những dự án thương mại tôi từng làm trước đây, tôi không biết khách hàng có ưng ý hay không.

Tôi lại càng không biết, liệu Thẩm Trục Dã có vì người đệ trình phương án là tôi mà đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe hơn để soi xét tôi hay không.

***

Một giờ chiều thứ Tư, tôi và sếp Lâm cùng ngồi xe tới Văn hóa Trục Dã.

Xe đỗ dưới tòa nhà văn phòng của họ, lúc xuống xe tôi ngước lên nhìn một cái.

Một tòa nhà văn phòng hiện đại cao 26 tầng, Văn hóa Trục Dã chiếm trọn từ tầng 17 đến tầng 19.

Mặt tiền bằng kính cường lực màu xám đậm phản chiếu lại bầu trời xanh trong vắt của buổi chiều cuối thu cùng vài gợn mây mỏng.

“Căng thẳng à?” Sếp Lâm đứng cạnh cười hỏi tôi.

“Một chút ạ.” Tôi thành thật đáp.

“Bình thường thôi, dự án này đúng là lớn thật.” Sếp vỗ vai tôi, “Nhưng tôi có niềm tin vào phương án của cô. Phong cách của cô rất hợp với tone màu các dự án mà Văn hóa Trục Dã từng làm, chắc là sẽ thuyết phục được họ.”

Tôi nhếch khóe môi, không nói gì.

Có thuyết phục được Bên A hay không thì tôi không biết, nhưng thứ tôi sợ nhất bây giờ là… chưa kịp trình bày xong, tôi đã bị “Bên A” đánh bại mất rồi.

Thang máy lên đến tầng 17.

Cô gái ở quầy lễ tân mặc một chiếc áo len dệt kim màu be, cười lên có hai lúm đồng tiền nhàn nhạt. Cô ấy dẫn chúng tôi đi dọc hành lang, đẩy cửa bước vào một phòng họp lớn.

Trong phòng họp đã có mấy người đàn ông trung niên mặc vest ngồi sẵn, sếp Lâm lần lượt bắt tay chào hỏi từng người. Tôi đứng cạnh mở máy tính, kết nối bản thuyết trình lên màn hình chiếu.

Và rồi tôi nghe tiếng cửa phòng họp bị đẩy ra.

Một chuỗi tiếng bước chân trầm ổn truyền đến từ phía sau.

Âm thanh không nhanh không chậm, tiếng giày da giẫm trên thảm phát ra tiếng vang trầm đục và đầy uy lực, mỗi bước đi như giẫm thẳng lên tim tôi.

Sếp Lâm và những người khác đồng loạt đứng dậy, gọi một tiếng “Sếp Thẩm”.

Tôi siết chặt chiếc bút chỉ laser trong tay, hít sâu hai hơi, rồi ngẩng đầu lên.

Thẩm Trục Dã mặc một chiếc áo sơ mi đen may đo cắt cúp sắc sảo bước vào, xắn tay áo lên tới cẳng tay, để lộ cổ tay sạch sẽ cứng cáp.

Vạt áo sơ mi nhét gọn vào chiếc quần tây xám sẫm, đường bờ vai thẳng tắp.

Tóc anh dài hơn hồi cấp ba một chút, vài lọn tóc lòa xòa trước trán bị tùy ý vuốt sang một bên, cả khuôn mặt so với năm năm trước càng thêm sắc nét, đường nét xương mày và sống mũi dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng họp trông đặc biệt lạnh lùng sắc bén.

Anh vừa bước vào vừa cúi đầu lật xấp kẹp tài liệu trong tay, giọng nói không cao không thấp: “Xin lỗi, vừa có cuộc gọi nên tới muộn.”

Người đàn ông trung niên bên cạnh lập tức đứng dậy kéo ghế chủ tọa cho anh.

Thẩm Trục Dã ngồi xuống ghế chính của chiếc bàn dài, tùy ý đặt kẹp tài liệu lên mặt bàn trước mặt.

Rồi anh ngước lên, ánh mắt lướt qua từng khuôn mặt của những người có mặt.

Khi quét đến tôi, ánh mắt anh dừng lại.

Đôi mắt nâu sẫm ấy xuyên qua ánh đèn tông lạnh của phòng họp nhìn về phía tôi, không ngạc nhiên, không xao động, chỉ có một sự thấu hiểu cực nhạt nhòa, gần như không thể nhận ra.

Khóe miệng anh thậm chí còn khẽ cong lên một chút. Biểu cảm đó những người khác có mặt chắc chắn không ai chú ý tới, nhưng trong mắt tôi, rõ ràng đó là dáng vẻ của một người thợ săn đang nói với con mồi: “Cuối cùng em cũng đến rồi.”

Tôi cụp mắt xuống, vờ như đang chăm chú nhìn màn hình máy tính, ngón tay vô thức lướt lướt hai cái trên touchpad nhưng chẳng thao tác gì.

“Cô Ôn,” giọng Thẩm Trục Dã truyền tới từ đầu bàn bên kia, ngữ điệu bình thản như đang bàn điều khoản hợp đồng, “Lâu rồi không gặp.”

Cả phòng họp im phăng phắc trọn ba giây.

Sếp Lâm nhìn tôi, rồi lại nhìn Thẩm Trục Dã, lông mày sắp vểnh lên tận chân tóc. Biểu cảm đó rõ ràng đang nói: *Hai người quen nhau à?* Mấy quản lý cấp cao của Văn hóa Trục Dã bên cạnh cũng hơi liếc mắt, ánh mắt đảo đi đảo lại giữa tôi và Thẩm Trục Dã.

Tôi cắn răng, ngẩng đầu lên, nặn ra một nụ cười chuyên nghiệp nhất trong đời: “Chào sếp Thẩm, không ngờ lại gặp anh ở đây.”

Thật giả tạo. Giả tạo đến mức răng tôi cũng muốn ê buốt.

Nhưng Thẩm Trục Dã có vẻ rất thụ hưởng điều đó, nụ cười trên khóe môi anh càng sâu hơn một chút. Sau đó anh thu hồi ánh mắt, lật kẹp tài liệu trước mặt: “Bắt đầu đi.”

Cuộc họp diễn ra trong một bầu không khí vô cùng kỳ quái.

Cũng may là phương án không có gì sai lệch so với những gì tôi đã chuẩn bị, tôi bắt đầu trình bày một cách thong dong.

Từ bối cảnh dự án đến ý tưởng thiết kế, từ khái niệm cốt lõi “Tái sinh ký ức” đến quy hoạch cụ thể của năm phân khu chức năng, tôi lần lượt lật từng trang slide, giọng nói từ chỗ hơi run ban đầu đã dần trở nên trầm ổn.

Dù sao thì đây cũng là thành quả tôi thức trắng hai đêm để làm ra, từng con chữ, từng bức ảnh tham khảo trên mỗi trang đều là tâm huyết của tôi.

Khi tôi trình bày đến phân khu thứ năm, cũng là phương án ý tưởng cho quảng trường văn hóa ven sông, không khí trong phòng họp rõ ràng đã nóng lên.

Mấy quản lý cấp cao đặt câu hỏi tích cực hơn hẳn nửa đầu cuộc họp. Có người hỏi làm sao đảm bảo độ bền của việc tái chế gỗ cũ và dây thừng, có người lại hỏi chi phí bảo trì cho các thiết bị âm thanh ánh sáng có quá cao không, tôi lần lượt giải đáp từng vấn đề.

Những câu hỏi kỹ thuật này tôi đã cân nhắc từ trước nên trả lời vô cùng trôi chảy.

Thẩm Trục Dã từ đầu đến cuối không hề mở miệng.

Anh chỉ ngồi ở vị trí chủ tọa, tay phải xoay một cây bút máy, thân bút xoay lật đều đặn giữa các ngón tay, động tác trôi chảy như nước chảy mây trôi.

Ánh mắt anh vẫn luôn đặt trên người tôi, không hề rời đi.

Ánh mắt đó không mang tính công kích, nhưng cảm giác tồn tại lại cực kỳ mạnh mẽ. Giống như một tấm gương hội tụ, gom toàn bộ sự chú ý tập trung vào một điểm, không nóng bỏng, nhưng lại khiến người ta cảm thấy không còn chỗ nào để trốn.

Trong lúc trình bày, có vài lần tôi lỡ chạm mắt với anh, mỗi lần như thế tôi lại nhanh chóng né đi trong vòng chưa tới 1 giây, giả vờ như đang nhìn hình chiếu trên màn hình.

Khi tôi rốt cuộc gập máy tính lại, trong phòng vang lên vài tiếng vỗ tay lác đác.

Dưới gầm bàn, sếp Lâm lén lút giơ ngón tay cái về phía tôi.

Mấy quản lý của Văn hóa Trục Dã thì thầm to nhỏ vài giây, sau đó người trông có vẻ thâm niên nhất mở lời: “Hướng đi tổng thể của phương án chúng tôi thấy rất có điểm nhấn, đặc biệt là chủ đề ‘Tái sinh ký ức’, cực kỳ phù hợp với định vị của công ty chúng tôi. Bản đệ trình của nhà thiết kế Ôn, là phương án có nhiệt độ nhất trong số tất cả các phương án chúng tôi xem dạo gần đây.”

Tôi thầm thở phào nhẹ nhõm. Xem ra bản thân phương án đã qua cửa.

Thẩm Trục Dã đặt bút xuống, những ngón tay thon dài đan vào nhau đặt lên mặt bàn, cuối cùng cũng mở miệng.

“Định hướng của khái niệm cốt lõi là đúng, nhưng độ sâu của các chi tiết cụ thể vẫn chưa đủ. Quy hoạch phân khu của cô hiện tại chỉ mới dừng lại ở việc định vị chức năng, chưa chạm đến các nút không gian và chuỗi trải nghiệm cụ thể. Làm khu phố văn hóa không giống như làm trung tâm thương mại, không thể chỉ cân nhắc cách phân bổ ngành nghề, mà phải tính đến việc dẫn dắt cảm xúc của người tham quan. Họ bước vào từ đâu, thấy cái gì trước, thấy cái gì sau, ở nút giao nào sẽ có sự rung động về mặt tình cảm, ở nút giao nào sẽ muốn dừng lại chụp ảnh hay ngồi xuống nghỉ ngơi. Nhịp điệu cảm xúc trên tuyến đường đi lại quan trọng hơn cả phân

khu chức năng.”

Anh ngừng một chút, ngón tay vô thức gõ lên mặt bàn một cái: “Còn nữa, việc lựa chọn vật liệu. Phương án có nhắc đến việc dùng gỗ thuyền cũ tái chế và dây thừng bện, định vị của hai loại vật liệu này là gì? Là biểu tượng thị giác dùng để trang trí điểm xuyết, hay là kết cấu chính của không gian? Cô phải cho một định vị rõ ràng. Nếu là vế đầu, thì quá bảo thủ; nếu là vế sau, thì cần phải dành nhiều công sức hơn vào việc hoàn thiện các điểm nút, biến những vật liệu này trở thành một phần của câu chuyện không gian, chứ không phải chỉ là vật trang trí dán lên tường.”

Cả phòng họp im lặng đến mức có thể nghe thấy tiếng kim rơi.

Giọng điệu khi anh nói những lời này không mặn không nhạt, nhưng từng chữ một lại chỉ thẳng vào điểm yếu nhất trong phương án của tôi.

Hơn nữa những gì anh nói hoàn toàn có lý, tôi không cách nào phản bác.

Phương án trước đây của tôi quả thực không đào đủ sâu vào các chi tiết, vì thời gian quá gấp rút, tôi chỉ có thể dựng lên một bộ khung lớn trước.

“Vâng, thưa sếp Thẩm. Những điểm này tôi sẽ đi sâu hoàn thiện thêm.” Tôi cố gắng giữ cho giọng mình nghe thật chuyên nghiệp và bình tĩnh.

“Ngoài ra,” Thẩm Trục Dã lại lên tiếng, lần này khóe miệng anh cong lên một vòng cung rất tinh tế, “Thiết bị âm thanh tiếng hò dô của công nhân bến tàu mà cô đề cập trong phương án, ý tưởng rất hay, nhưng cách thực hiện vẫn cần phải có tính thực tiễn. Chỗ tôi có một kho lưu trữ tư liệu hình ảnh của những công nhân bến tàu già năm xưa, là dữ liệu thu thập được khi làm dự án lịch sử truyền miệng của Phụng Thành vài năm trước, trong đó có đoạn video quay cảnh một công nhân già hát trọn vẹn tiếng hò dô bến tàu. Tôi có thể để nhóm làm việc tổng hợp lại phần tư liệu này và gửi cho cô, làm tư liệu cho thiết bị âm thanh.”

Tôi sững người.

Anh ta vậy mà lại chủ động cung cấp tư liệu? Thế này là phương án đã được công nhận rồi, hay là… anh ta chỉ đơn thuần là làm việc công tư phân minh?

“Cảm ơn sếp Thẩm, phần tư liệu này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc hoàn thiện phương án của chúng tôi.” Tôi cố gắng giữ giọng điệu chừng mực của công việc.

Thẩm Trục Dã gật đầu, rồi đứng dậy. Anh vừa đứng lên, những người khác trong phòng cũng lập tức đứng lên theo.

Đó có lẽ là một loại tín hiệu, nghĩa là cuộc họp kết thúc. Anh chỉnh lại ống tay áo, ngước mắt nhìn sếp Lâm: “Sếp Lâm, hướng đi của phương án chúng tôi đồng ý. Những bước hoàn thiện tiếp theo cứ để nhà thiết kế Ôn chủ đạo, làm việc trực tiếp với đội ngũ của chúng tôi. Dự án này thời gian rất gấp, tốt nhất là mỗi tuần nên có một buổi báo cáo tiến độ trực tiếp.”

“Không vấn đề, không vấn đề,” sếp Lâm liên tục gật đầu, mặt tươi như hoa, “Tiểu Ôn là nhà thiết kế trẻ tiềm năng nhất của công ty chúng tôi, nhất định sẽ dốc toàn lực làm thật tốt dự án này.”

Thẩm Trục Dã ừ một tiếng, rồi nhìn sang tôi một cái.

Ánh mắt đó lướt qua rất nhanh, có khi chưa đầy một giây, nhưng tôi thấy rõ mồn một thông điệp nguy hiểm nào đó từ ánh nhìn ấy. Thứ thông điệp đó hoàn toàn khác hẳn với giọng điệu công việc ban nãy, nó giống như một dòng nước ngầm cuồn cuộn chảy bên dưới lớp băng mỏng.

Sau khi anh đi, tôi theo sếp Lâm ra khỏi tòa nhà của Văn hóa Trục Dã. Sếp Lâm suốt đường đi cứ luôn miệng phấn khích, nào là “Lần này dự án chắc cú rồi”, nào là “Cô với sếp Thẩm lại là bạn học cấp ba sao không nói sớm”, tôi chỉ biết ừ hử cho qua chuyện, trong đầu chỉ đọng lại đúng một suy nghĩ.

*Những điểm nút của phương án cần hoàn thiện, đều phải đến Văn hóa Trục Dã báo cáo trực tiếp với anh.*

Nói cách khác, thời gian tới, tôi sẽ có nguy cơ chạm mặt Thẩm Trục Dã vô cùng thường xuyên.

Gặp thì gặp. Dù sao thì phương án cũng là việc công, tôi chỉ cần hoàn thành tốt công việc là được.

Thế nhưng Ôn Hạ ngàn vạn lần không ngờ tới, Thẩm Trục Dã ngay từ đầu đã chẳng có ý định phân tách rạch ròi “việc tư” và “việc công”.

***

Sáu giờ rưỡi chiều thứ Sáu, lần đầu tiên tôi dùng danh nghĩa “Khớp phương án chi tiết”, một mình đến Văn hóa Trục Dã.

Cô bé lễ tân đã tan làm, dãy hành lang tầng 17 vắng lặng, chỉ có ánh đèn hắt ra từ khe cửa phòng Tổng giám đốc ở cuối dãy.

Ánh đèn bàn màu vàng ấm áp, tạo nên sự tương phản rõ rệt với ánh đèn trần trắng lạnh ngoài hành lang.

Tôi đứng trước cửa, giơ tay định gõ.

Khi ngón tay sắp chạm vào mặt gỗ thì khựng lại, vì tôi nghe thấy tiếng Thẩm Trục Dã đang nghe điện thoại bên trong.

Giọng anh cách một lớp cửa nghe không rõ lắm, nhưng ngữ điệu rõ ràng khác hẳn lúc mở cuộc họp. Mang theo chút mệt mỏi và lười biếng, giống như đang trò chuyện với một người bạn cũ.

“… Tôi biết rồi, cậu đừng giục nữa. Hướng thiết kế phương án đó tôi rất ưng, không phải vì cô ấy là bạn học của tôi nên cậu đừng nghĩ nhiều… Được rồi, cúp đây.”

Tôi đợi thêm vài giây, xác nhận anh đã cúp máy, mới cong ngón tay gõ cửa. Giọng anh từ bên trong vọng ra, ngắn gọn và mạnh mẽ: “Vào đi.”

Khoảnh khắc đẩy cửa bước vào, phản ứng đầu tiên của tôi là… Căn phòng làm việc này và cái vẻ ngoài mang hơi hướng kinh doanh bên ngoài kia hoàn toàn là hai thế giới khác biệt.

Chiếc bàn làm việc rộng lớn và trống trải, trên đó chỉ đặt một chiếc laptop và một ly cà phê đã cạn.

Nguyên một bức tường toàn là sách, trải dài từ sàn lên tận trần nhà, chất đầy đủ các thể loại, từ thiết kế kiến trúc, lịch sử đô thị, xã hội học, nhân chủng học, xen lẫn vài cuốn tiểu thuyết văn học trông có vẻ đã được lật giở rất nhiều lần.

Trên tường treo một bức ảnh đen trắng khổ lớn, chụp lại cảnh công nhân khuân vác bến tàu Phụng Thành thời Dân Quốc. Những người đàn ông cởi trần, trên vai lót miếng vải vụn, vác những bao tải cao hơn đầu người, khuôn mặt bị gió sông thổi đến nứt nẻ.

Trong góc phòng đặt một cây guitar acoustic màu gỗ tự nhiên, trên dây đàn kẹp một cái capo, bên cạnh vứt lăn lóc vài tờ giấy chép nhạc.

Rèm cửa kính sát đất không kéo, bên ngoài khung cửa là đường chân trời lúc chập tối của Phụng Thành, tia nắng cuối cùng trên mặt sông đang dần phai nhạt, dãy nhà phía bờ bên kia bắt đầu thắp lên những đốm sáng li ti.

Thẩm Trục Dã ngồi sau bàn làm việc, không mặc áo khoác vest, tay áo sơ mi xắn lên đến khuỷu tay, cổ áo tháo hai cúc. Toàn bộ con người anh hoàn toàn khác với trạng thái sắc bén bung tỏa như lúc họp ban ngày, thả lỏng hơn rất nhiều, nhưng cũng… nguy hiểm hơn rất nhiều.

“Ngồi đi.” Anh chỉ vào chiếc ghế đối diện bàn làm việc, không đứng dậy. Anh đang lật giở một tập tài liệu, không ngẩng đầu lên, nhưng khóe miệng khẽ nhếch lên một độ cong rất nhẹ.

Tôi đặt máy tính lên bàn, ngồi xuống, mở bản thiết kế ra, chuẩn bị báo cáo.

Tôi định lướt qua một lượt các phương án thiết kế điểm nút đã chỉnh sửa từ đầu đến cuối, kiểm soát toàn bộ quá trình trong vòng 30 phút. Làm như vậy vừa thể hiện được thái độ chuyên nghiệp, lại không tạo cơ hội nào cho anh nói chuyện cá nhân trong giờ làm việc.

“Em đợi chút,” Thẩm Trục Dã rời mắt khỏi tập tài liệu, ánh mắt quét qua người tôi một vòng, rồi khẽ nhíu mày, “Trông em như ba ngày chưa ngủ vậy. Đã ăn tối chưa?”

“Ăn rồi ạ.” Thực ra là buổi trưa tôi có gặm nửa cái sandwich ở công ty, nửa còn lại vẫn nằm chỏng chơ trên bàn làm việc.

“Nói dối.” Anh bình thản bóc trần tôi, rồi nhấc điện thoại bàn lên, bấm một số máy nhánh, “Bảo nhà hàng dưới sảnh mang một phần ăn tối lên đây. Đồ thanh đạm, không cay. Thêm một cốc sữa nóng nữa.”

Tôi chết sững tại chỗ. Sao anh ta nhìn ra được? Hơn nữa anh ta lấy quyền gì mà tự ý quyết định tôi ăn gì?

“Sếp Thẩm, tôi đến đây để báo cáo phương án, không phải để…”

“Tôi biết em đến để báo cáo phương án, thế nên tôi cũng chuẩn bị sẵn rồi.” Anh xách một túi giấy kraft từ dưới gầm bàn lên, đẩy đến trước mặt tôi.

Trên túi in logo của Văn hóa Trục Dã, mở ra là mấy phần tài liệu đã in sẵn, “Mấy bản phác thảo chi tiết em gửi email tôi đã xem qua rồi, công việc ra công việc. Nhưng với tư cách là giám đốc dự án phía Bên A, tôi cũng phải đảm bảo nhà thiết kế chính không bị chết đói trong văn phòng của mình chứ. Em để bụng đói báo cáo thì hiệu quả cũng thấp.”

Tôi mở túi giấy kraft đó ra, bên trong là mấy tờ giấy in khổ A3.

Đó là bản nháp chi tiết tôi đã gửi cho đồng nghiệp của anh qua email, bên trên ghi chi chít những ghi chú của anh.

Trang nào cũng có những khoanh đỏ, bên cạnh ghi rõ các vấn đề và gợi ý sửa đổi. Có chỗ bị anh chất vấn về tính hợp lý của công năng, có chỗ bị anh chỉ ra điểm nghẽn trong luồng di chuyển.

Các ý kiến sửa đổi được viết cực kỳ chuyên nghiệp, hoàn toàn chuẩn mực của một giám đốc dự án thực thụ.

Điều này chứng tỏ chiều nay anh đã dành thời gian xem xét kỹ lưỡng toàn bộ phương án tôi gửi từ đầu đến cuối.

“Em cứ xem trước đi, đồ ăn mang lên thì ăn trước đã.” Nói xong câu đó, anh cúi đầu tiếp tục lật tài liệu của mình, bày ra một dáng vẻ “Bây giờ đang là giờ làm việc”.

Bữa tối nhanh chóng được mang lên.

Là một bát cháo niêu, ăn kèm hai đĩa thức ăn nhỏ, cùng một cốc sữa vẫn đang bốc khói nghi ngút. Từng hạt gạo trong bát cháo tơi xốp, tỷ lệ trứng bách thảo và thịt nạc vừa khéo, vị mặn nhạt vô cùng vừa miệng.

Tôi im lặng ăn cháo, thi thoảng ngẩng lên liếc nhìn người đối diện.

Anh đang gõ máy tính trả lời email, nhịp điệu gõ phím rất nhanh, ánh sáng trắng của màn hình hắt lên mặt anh, khiến bóng râm nơi xương mày càng thêm sâu thẳm.

“Đừng có nhìn mải thế, cháo nguội bây giờ.” Anh thậm chí không thèm ngẩng đầu.

“Sao anh biết tôi đói?”

“Lúc em bước vào cửa bụng réo ùng ục, tự em không để ý đấy chứ.”

Cuối cùng anh cũng ngẩng đầu lên, trên mặt mang theo vẻ “Tôi không phải quan tâm em, chỉ đang trần thuật sự thật” mà nói, “Còn nữa, trên ngón tay em dính bụi than, chiều nay đi khảo sát nhà kho cũ đúng không? Giờ đó, khu nhà kho cũ chẳng có chỗ nào bán đồ ăn đâu.”

Tôi vô thức nhìn xuống đầu ngón tay mình, quả nhiên vẫn còn lưu lại bụi than dính phải lúc đi đo đạc bến tàu kho bãi cũ buổi sáng.

Nhưng tôi không nói với anh rằng, trưa nay thực sự tôi không ăn. Thời gian quá gấp rút, buổi sáng tôi túc trực ở hiện trường 4 tiếng, chiều vội vã chạy về công ty làm phương án, gửi bản thảo sơ bộ đi xong mới pha tạm cốc cà phê lót dạ.

Ăn no xong, tôi đọc lại ghi chú của anh từ đầu đến cuối. Đọc xong mỗi trang, tim lại thắt lại một tấc. Ý kiến của anh tuy sắc bén và cay nghiệt, nhưng toàn bộ đều đánh trúng những lỗ hổng chí mạng, không thừa thãi lấy một câu.

Đặc biệt là đoạn ghi chú về chuỗi không gian nhà kho bến tàu, anh yêu cầu tôi chuyển tuyến di chuyển của khách tham quan từ “sắp xếp tuyến tính” sang “tịnh tiến zíc zắc”, dùng bức tường bình phong để cản trở tầm nhìn, khiến người xem không ngừng có những nhịp điệu cảm xúc nhấp nhô kiểu “chuyển hướng – khám phá – hồi vị” trên suốt tuyến đường.

Ý tưởng này cao tay hơn hẳn bản gốc của tôi không biết bao nhiêu bậc.

“Ý kiến của anh tôi sẽ mang về nghiên cứu kỹ.” Tôi gập tập giấy ghi chú lại, giọng điệu rõ ràng yếu hơn hẳn lúc mới bước vào, “Có một vài điểm quả thực là tôi chưa cân nhắc tới.”

“Không phải em chưa cân nhắc tới,” Thẩm Trục Dã ngả lưng ra ghế, hai tay đan chéo trước ngực, giọng điệu bỗng trở nên vô cùng nghiêm túc,

“Mà là em sợ sai. Ở giai đoạn đầu của phương án này, em đã quá bảo thủ, không dám đưa những thứ thực sự mang tính đột phá vào. Nhưng em rõ ràng có thể làm tốt hơn thế. Cái bản thiết kế lối vào đường hầm nhập vai ở bến tàu cũ thứ hai của em táo bạo hơn bản đầu tiên rất nhiều, dám thiết kế độ dốc của cầu ván với tỷ lệ 1:1, dám làm lối đi thành kết cấu treo lơ lửng. Phương án kiểu đó, mới là tiêu chuẩn thực sự của em.”

Tôi sững sờ.

Tôi không ngờ anh ta lại xem xét tất cả các bản thảo chỉnh sửa tôi đã gửi trong suốt hai tuần qua, và còn có thể chỉ ra chính xác tôi đã buông lỏng tay chân ở phiên bản nào, lại thu hẹp sự tự do ở phiên bản nào.

Hơn nữa, giọng điệu khi anh nói những lời này hoàn toàn không giống như đang vạch lá tìm sâu phương án, mà giống như đang phê phán chính con người tôi hơn. Vạch rõ khuyết điểm cố hữu của một người tên Ôn Hạ.

“Ôn Hạ, có đôi khi không phải năng lực em không đủ, mà là em thiếu một chút dũng khí bị ép đến đường cùng. Nhưng chỉ cần bị ép một chút, em sẽ tạo ra được thứ tốt nhất.”

Anh thả bút xuống, đứng dậy bước đến bên cửa sổ, quay lưng về phía tôi: “Phương án hôm nay đến đây thôi. Thứ Sáu tuần sau, em hãy mang bản thảo chốt cuối cùng đã được sửa theo ghi chú này đến gặp tôi.”

Tôi đứng dậy thu dọn đồ đạc, khi đi đến cửa, bước chân tôi khựng lại.

Tôi muốn quay đầu lại nói tiếng cảm ơn, nhưng lại cảm thấy hai chữ này quá nhẹ, dù là đối với những góp ý của anh, với bữa tối này, hay với những lời nói vừa rồi của anh, đều khác xa sự đền đáp xứng đáng.

Cuối cùng tôi không nói gì, kéo cửa bước ra ngoài.

Bước vào thang máy, tôi cúi đầu nhìn mấy tờ giấy A3 trong tay, trên đó chi chít những nét bút chữ đỏ của anh. Nét chữ sắc sảo, dứt khoát, y hệt như chữ trên báo bảng của anh hồi cấp ba.

Điện thoại rung lên một cái. Tin nhắn WeChat của anh nhảy ra: 【Tuần sau đừng để bụng đói mà đến nữa. Bên A không có trách nhiệm lo cơm nước đâu.】

Tôi nhìn chằm chằm tin nhắn đó mấy giây, không nhịn được mà nhếch khóe môi.

Cái đồ khẩu thị tâm phi. Rõ ràng bát cháo lúc nãy chính anh lấy số máy nhánh gọi lên cơ mà.

***

Từ ngày hôm đó, “Thứ Sáu gặp Thẩm Trục Dã” đã trở thành một cột mốc cố định và nổi bật trong cuộc sống của tôi.

Miệng anh thì cứ nói là đối khớp tiến độ giữa hai bên A – B, nhưng thực tế, mỗi tuần anh đều mượn cớ đẩy cái giới hạn “đối khớp” này sang hướng “việc tư”.

Tuần thứ hai, anh trực tiếp chuyển địa điểm làm việc từ tòa nhà văn phòng của Văn hóa Trục Dã sang khu nhà kho bến tàu cũ đang thi công.

Hiện trường xi măng chưa khô, bụi bay mù mịt. Anh đội mũ bảo hộ, tóc mái bết mồ hôi dính trước trán, chiếc áo phông xám đậm dính một mảng lớn bụi vữa trắng xóa, thoạt nhìn chẳng giống vị tổng tài ngồi văn phòng chút nào.

Anh trải phẳng bản vẽ chi tiết của tôi trên một chiếc thùng gỗ cũ, khớp ngón tay gõ gõ lên một bản vẽ kết cấu trong tiếng ồn ào của công trường, nghiêng đầu nói với tôi: “Mái vòm của phòng triển lãm ánh sáng này, em phải để ánh nắng chiếu trực tiếp vào bục trưng bày trung tâm, chứ không phải chiếu lên đỉnh đầu người tham quan. Độ lệch của điểm rơi ánh sáng không được vượt quá 20 centimet, nếu không trọng tâm của toàn bộ không gian sẽ bị lệch.”

Nói xong, anh liếc nhìn tôi một cái, đuôi mắt hơi cong lên, bồi thêm một câu: “Tường gạch ở đây chưa trát bả đâu, tối về nhớ rửa mặt cho kỹ. Trên mũi dính bụi rồi kìa.”

Tôi phản xạ có điều kiện đưa tay quệt mũi, anh bật cười thành tiếng. Đội trưởng thi công đứng cạnh đó liếc nhìn hai chúng tôi một cái, rồi lập tức quay mặt đi, giả vờ như đang soi đường ống trên trần nhà.

Tuần thứ ba, rơi vào kỳ nghỉ Quốc khánh, tôi những tưởng có thể nghỉ ngơi một chút.

Kết quả, 10 giờ sáng mùng một, tôi bị điện thoại rung làm cho tỉnh giấc. Vừa mở màn hình lên đã thấy tin nhắn Thẩm Trục Dã gửi từ lúc 4 giờ rưỡi sáng.

Không phải công việc, mà là một bức ảnh đen trắng cũ, chụp cảnh công nhân bến tàu thập niên 70 đang ngồi xổm ăn trưa bên bờ sông.

Bên dưới đính kèm một câu: 【Người thứ ba bên trái trong bức ảnh này là ông ngoại tôi. Năm 16 tuổi ông đã đi vác hàng ở bến tàu, vác suốt 20 năm. Trong phương án này của em có nói sẽ làm thiết bị âm thanh tiếng hò dô của công nhân già, em có thể để lại một vị trí để in dấu tay ông ngoại tôi trên bức tường triển lãm được không? Không phải đang trách cứ em, mà là đang cầu xin em.】

Anh dùng hai chữ “cầu xin”. Cái người chưa từng buông tay nhượng bộ trên bàn đàm phán, người luôn chỉ trích chính xác từng tử huyệt lúc sửa bản thảo mà không nể nang ai như Thẩm Trục Dã, lại nhắn tin cho tôi lúc 4 giờ rưỡi sáng, dùng chữ “cầu”.

Tôi ôm điện thoại ngồi ngây ngốc trên giường, một lúc lâu sau mới đáp: 【Bình thường ông ngoại vác hàng bằng tay nào?】

Anh rep lại ngay tắp lự: 【Tay phải. Chỗ hổ khẩu (kẽ ngón tay cái và trỏ) có một vết chai, dày như vỏ cây.】

Tôi nói: 【Được. Em sẽ đúc một dấu tay phải của ông bằng đồng gắn trên tường triển lãm, bên cạnh sẽ khắc tên ông.】

Anh im lặng rất lâu, rồi chỉ đáp lại một chữ: 【Ừ.】

Chỉ một chữ. Nhưng cái chữ “Ừ” đó rơi vào khung chat của tôi, lại nặng tựa ngàn cân, hơn bất cứ lời cảm ơn dài dòng nào.

Tuần thứ tư, anh dẫn tôi đi dự cuộc họp tổng kết quý của Văn hóa Trục Dã.

Nói là họp tổng kết, thực chất là toàn bộ đội ngũ ngồi quanh bàn dài lần lượt rà soát tiến độ dự án. Còn tôi, danh chính ngôn thuận ngồi cạnh anh để thảo luận về vấn đề luồng di chuyển của một điểm nút quan trọng.

Tất cả mọi người trong phòng họp đều đổ dồn mắt nhìn chúng tôi, còn anh thì ghé sát vào màn hình máy tính của tôi, hơi nghiêng người, mặt cách mặt tôi chưa đến 20 phân. Những ngón tay thon dài gõ gõ vào một góc màn hình: “Khoảng không gian chuyển tiếp này em định làm gì?” Hơi thở của anh lướt qua vành tai tôi, sống lưng tôi căng như dây đàn nhưng lại không nỡ né tránh.

Mùi hương trên người anh rất nhạt, không phải mùi nước hoa, mà giống như mùi thơm thoang thoảng của nước giặt xả, lại giống như cái mùi sạch sẽ, ấm áp bị hệ thống lò sưởi trong văn phòng hong khô bốc lên.

Tôi vô thức nín thở, rồi di chuyển con trỏ chuột đến điểm đó để chỉ cho anh xem: “Làm một khu vực nghỉ ngơi bán mở. Dùng gỗ thuyền cũ làm ghế dài, trên tường sẽ phát lại video ghi chép lịch sử truyền miệng của các công nhân bến tàu.”

“Được.” Anh thẳng người dậy, biểu cảm lại khôi phục vẻ công tư phân minh của Bên A, nhưng lúc lùi ra, cổ tay anh vô tình sượt qua ngón tay tôi.

Không phải cố ý, lực lướt nhẹ như một chiếc lá khô chạm vào mu bàn tay, nhưng lại khiến tim tôi lỡ mất một nhịp.

Cuộc họp kết thúc, tôi đuổi theo chặn anh ở cửa khu vực thang máy. Những người khác đều đã vào thang máy hết, chỉ còn tôi và anh đứng lại trên hành lang. Tôi hạ giọng hỏi anh: “Thẩm Trục Dã, lúc nãy anh có phải là cố ý không?”

“Cố ý chuyện gì?” Anh biết rõ còn cố hỏi, đường vòng cung cong lên nơi khóe mắt khiến tôi chỉ muốn đấm cho một cái.

“Anh tự biết.”

“Tôi đang xem bản thảo, không để ý.” Anh bước lướt qua tôi, đi được hai ba bước lại khựng lại, quay đầu bổ sung thêm một câu: “Nhưng cái khoảnh khắc em lùi lại né tránh thì tôi có để ý đấy.”

Tôi tức muốn bẻ đôi chiếc bút cảm ứng trong tay.

Tuần thứ năm, hạn chót để bàn giao bản thảo cuối cùng cận kề. Toàn bộ nhóm dự án của Văn hóa Trục Dã và công ty tôi cộng lại gần ba mươi người, điên cuồng tăng ca.

Tôi đã ba ngày chưa về nhà, ngủ trên chiếc giường gấp của bộ phận thiết kế, dùng cà phê để duy trì mạng sống. An An đến mang cơm cho tôi hai bữa, đều bị tôi dùng chung một lý do để đuổi đi: “Tớ đang bận lắm, đừng làm phiền tớ.”

Rạng sáng ngày thứ tư, khi tôi đang chỉnh màu lần cuối cho bản thiết kế phối cảnh trên màn hình, điện thoại chợt sáng lên. Thẩm Trục Dã nhắn tin: 【Tôi đang ở dưới lầu công ty em.】

Tôi chạy vội ra cửa sổ nhìn xuống.

12 rưỡi đêm, cạnh ngọn đèn đường dưới lầu công ty đậu một chiếc Porsche màu xám đậm nhám mờ, thân xe lấp lánh thứ ánh sáng đầy khiêm tốn dưới ánh đèn trắng lạnh.

Thẩm Trục Dã mặc một chiếc áo khoác măng tô màu xám khói đứng cạnh xe, quàng chiếc khăn len màu xanh lục sẫm, tôn lên làn da lạnh lẽo của anh trong màn đêm. Tay trái anh xách cốc sữa đậu nành, tay phải cầm một chiếc túi giấy kraft, đang ngẩng đầu nhìn về phía cửa sổ văn phòng tôi.

Tôi phi như bay xuống lầu.

“Sao anh lại đến đây?” Tôi thở hồng hộc chạy đến trước mặt anh.

“Tiện đường.” Anh nói.

“12 rưỡi đêm mà anh tiện đường đi qua dưới lầu công ty tôi á?”

“Thì tiện đường.” Anh nhét cốc sữa đậu nành vào tay tôi, liếc nhìn quầng thâm dưới mắt tôi, hơi nhíu mày: “Mấy ngày nay em ngủ được mấy tiếng rồi?”

“Cộng lại chắc được… mười tiếng?” Tôi thành thật trả lời.

Anh không nói gì, chỉ nhét nốt chiếc túi giấy vào tay tôi.

Bên trong túi giấy là những chiếc bánh bao nhỏ (tiểu long bao), khi mở ra hơi nóng bốc lên ngùn ngụt, mùi thơm xộc thẳng vào mũi.

Tôi cắn một miếng là biết ngay của tiệm nào, là quán cũ cạnh cổng trường mà hồi cấp ba chúng tôi hay ăn, vỏ mỏng nhiều nước, nhân thịt tươi ngon.

Tiệm đó 6 giờ sáng mở cửa, 9 giờ tối đã đóng cửa, căn bản không thể mua được lúc 12 rưỡi đêm thế này.

“Bánh bao này…”

“Ông chủ là bố của bạn tôi,” anh hờ hững nói, “Đã gọi điện nhờ người ta mở cửa hấp cho một lồng.”

Ngón tay đang cầm cốc sữa đậu nành của tôi khẽ siết lại, chiếc cốc giấy bị bóp lõm một vết mờ mờ.

12 rưỡi đêm, anh gọi điện đánh thức một người già, chỉ để hấp cho tôi một lồng bánh bao.

Thế nhưng vẻ mặt của anh trông như thể chuyện này chẳng có gì to tát, cứ như bất kỳ người bình thường nào cũng sẽ làm vậy.

“Anh không cần phải…”

“Cần chứ.” Anh ngắt lời tôi, giọng nói chợt trở nên rất nghiêm túc.

Ánh đèn đường hắt lại từ phía sau lưng anh, một nửa khuôn mặt anh chìm trong bóng tối, nhưng đôi mắt ấy lại sáng ngời đến kinh ngạc, “Ôn Hạ, tôi sẽ không so đo với em quá nhiều về mấy chuyện chi tiết đâu.

Những lời nợ em trước kia, không có cách nào bù đắp được. Nhưng bắt đầu từ bây giờ, dự án này em liều mạng gánh vác, thì tôi sẽ làm tốt khâu hậu cần. Em chịu trách nhiệm thiết kế, tôi chịu trách nhiệm vỗ béo em.”

Anh gom lại chiếc khăn quàng cổ trong gió đêm, rồi mở cửa xe bước lên. Đèn xe sáng lên, anh hạ cửa sổ xuống, ném lại câu cuối cùng.

“Bánh bao ăn lúc còn nóng đi. Ngày mai chốt bản thảo cuối, đừng đến muộn.”

Sau đó đạp ga, ánh đèn hậu hòa vào màn đêm u tối rồi biến mất.

Tôi đứng trong cơn gió lạnh dưới lầu công ty, tay nắm chặt cốc sữa đậu nành ấm áp và túi bánh bao vượt thời gian đóng cửa mới mua được, khóe mắt đột nhiên cay cay.

Không phải vì mệt, mà là vì cảm giác được ai đó quan tâm đến thế, quan tâm đến mức gọi điện thoại lúc nửa đêm nhờ người nhóm lửa hấp bánh bao, mà người đó lại tình cờ là Thẩm Trục Dã.

Điện thoại tôi lại rung lên.

Trong nhóm chị em, An An gửi một tin nhắn, là ảnh chụp màn hình bài đăng trên vòng bạn bè WeChat của Thẩm Trục Dã.

Tôi bấm vào xem, thấy lúc hơn 9 giờ tối, Thẩm Trục Dã đăng một status, định vị là phòng tiệc của một khách sạn ở Lâm Thành bên cạnh, kèm dòng trạng thái: “Tham gia hội nghị chuyên ngành, tối phải chạy về gấp.”

9 giờ tối anh vẫn đang dự hội nghị ở Lâm Thành, 12 rưỡi đêm anh xuất hiện dưới lầu công ty tôi, tay xách lồng tiểu long bao vừa mới ra lò.

Từ Lâm Thành đi cao tốc về Phụng Thành nhanh nhất cũng phải mất gần hai tiếng.

Tức là, vừa tan họp anh đã phi thẳng ra bãi đỗ xe, lái xe hai tiếng về Phụng Thành, xuống cao tốc là đi gõ cửa tiệm bánh bao trước, rồi mới đến công ty tôi.

Anh gọi cái này là “Tiện đường”.

Tôi tắt ảnh chụp màn hình, ngồi thụp xuống rìa bồn hoa dưới lầu, vùi mặt vào đầu gối, cười lặng lẽ.

Ôn Hạ, mày xong đời rồi. Mày thích một người tận hai lần, lần thứ nhất mất hai năm, lần thứ hai chỉ mất có bốn tuần. Hơn nữa lại còn là cùng một người. Đúng là hết thuốc chữa.

***

Giữa tháng Mười một, bản thảo cuối cùng chính thức được bàn giao.

Phía Văn hóa Trục Dã đã tổ chức cuộc họp đánh giá lần cuối, quy mô lớn hơn bất kỳ lần nào trước đây. Ngoài nhóm nòng cốt nội bộ của họ, còn có sự góp mặt của phòng quy hoạch chính quyền và một vài chuyên gia.

Trong phòng họp có gần hai mươi người, ghế hai bên bàn dài chật kín, phía sau còn kê thêm một dãy ghế xếp.

Tôi đứng trước màn hình máy chiếu, lật qua trang slide cuối cùng. Căn phòng im phăng phắc trọn vẹn 5 giây.

Rồi một vị chuyên gia tóc hoa râm đi đầu tháo kính xuống, nói một câu: “Đây mới đúng là dự án văn hóa sáng tạo mà Phụng Thành nên có.”

Khoảnh khắc tiếng vỗ tay vang lên, người đầu tiên tôi nhìn không phải là sếp Lâm, không phải là chuyên gia, mà là Thẩm Trục Dã đang ngồi ở cuối bàn dài.

Anh đang vỗ tay.

Hai tay đan vào nhau, không nhanh không chậm, nhưng tôi thấy độ cong khóe miệng anh không giống bình thường. Không phải là nụ cười tiêu chuẩn trong thương trường, mà là một sự tự hào thực sự.

Không phải tự hào vì dự án, mà là vì tôi.

Cuộc họp đánh giá kết thúc, trong khi những người khác đang chúc rượu, trao đổi danh thiếp, Thẩm Trục Dã xuyên qua đám đông đi đến trước mặt tôi.

Hiếm khi anh không mặc bộ vest trang trọng đó, mà đổi sang một chiếc áo len cashmere màu xanh đậm. Chất vải mềm mại khiến cả con người anh trông dịu đi rất nhiều.

“Đi, ra ngoài hóng gió chút.” Anh nói.

Tôi theo anh rời khỏi phòng họp, đi dọc hành lang đến ban công ở cuối dãy. Gió trên ban công rất lớn, gió sông thổi tung tóc tạt hết vào mặt tôi.

Thẩm Trục Dã tựa người vào lan can, đằng xa xa trên mặt sông có một chiếc tàu chở hàng chầm chậm lướt qua, tiếng còi tàu vang lên trầm đục ngân vang.

“Ôn Hạ, bản thiết kế cuối cùng đã thông qua rồi. Phương án của em chính thức được triển khai.” Anh nói, không nhìn tôi, ánh mắt đặt trên mặt sông đằng xa.

“Vâng, cuối cùng cũng qua rồi.” Tôi đứng cạnh anh, hai tay bám vào lan can, “Cảm ơn những ý kiến đóng góp của anh thời gian qua, giúp tôi rất nhiều.”

“Không cần cảm ơn. Chúng ta là Bên A và Bên B mà.” Anh ngập ngừng một chút, rồi quay sang nhìn tôi. Trong đôi mắt ấy có sự phản chiếu của mặt sông, và cả một thứ gì đó khác đang lấp lánh, “Bây giờ nói chuyện công xong rồi, bàn chút chuyện tư đi.”

Tim tôi “thịch” một cái.

“Từ lần đầu tiên tôi đợi em dưới lầu đến giờ, đã sáu tuần trôi qua rồi.”

Anh quay người lại, đối mặt với tôi, hơi cúi đầu xuống, thu hẹp khoảng cách giữa hai người, “Tôi vẫn luôn đợi em chủ động mở lời. Nhưng em lì lợm hơn tôi tưởng. Chuyện công thì em bàn đâu ra đấy, chuyện tư thì cấm nhắc lấy nửa lời.”

“Tôi…”

“Được, em không nhắc, tôi nhắc.” Anh ngắt lời tôi, giọng điệu vẫn là cái điệu bộ nhẹ bẫng tựa mây bay gió thoảng, nhưng nếu nghe kỹ, sẽ nhận ra âm cuối của anh mang theo một sự căng thẳng rất khó để phát hiện.

“Ôn Hạ, trong sáu tuần này, tôi đã cho em vô số cơ hội để đẩy tôi ra. Em có thể từ chối lúc tôi đến công ty em lần đầu, có thể yêu cầu đổi người phụ trách ở lần khớp tiến độ thứ hai, có thể bảo tôi đừng đến

nữa khi tôi mang bánh bao cho em lúc nửa đêm. Nhưng em không làm vậy.”

Anh bước lên một bước, khoảng cách gần đến mức tôi phải ngẩng đầu lên mới nhìn thấy mặt anh.

“Em không đẩy tôi ra. Vậy bây giờ tôi phải hỏi em rồi. Đây là ngầm đồng ý sao?”

Gió sông thổi rối tung mái tóc anh, vài lọn tóc mái phất phơ trước trán hơi lay động.

Trong đôi mắt anh phản chiếu ánh đèn li ti của thành phố bên kia bờ sông, và cả hình dáng cứng đờ của tôi.

Tôi há miệng, phát hiện mình không biết nói gì nữa. Toàn bộ khả năng tổ chức ngôn ngữ đã hoàn toàn đình công vào khoảnh khắc này.

Rồi anh bỗng bật cười.

Trong nụ cười ấy có một chút bất lực, một chút tự giễu, nhưng nhiều hơn cả là một sự dịu dàng đầy kiên định.

“Thôi bỏ đi, hôm nay em khoan hãy trả lời. Lần gặp tới, tôi sẽ tiếp tục hỏi em.” Anh nói, “Cho đến khi em chịu nói sự thật mới thôi.”

Nói xong, anh quay lưng đi vào trong nhà, để lại một mình tôi trên ban công.

Gió sông tháng Mười một thổi qua, lạnh đến mức tôi rùng mình một cái. Nhưng hơi nóng trên mặt tôi mãi vẫn chẳng hạ xuống nổi.

***

Tháng Mười hai, Phụng Thành chính thức bước vào mùa đông.

Dự án chuyển sang giai đoạn thi công, tần suất khớp tiến độ tại hiện trường từ mỗi tuần một lần chuyển thành mỗi ngày một lần.

Thẩm Trục Dã vẫn đến mỗi ngày. Có lúc mặc vest bước thẳng từ cuộc họp khác sang, có lúc đã thay bộ đồ bảo hộ lao động, đội mũ bảo hộ cùng tôi leo giàn giáo.

Hôm đó là ngày 14 tháng Mười hai, thứ Bảy, sinh nhật tôi.

Sáng thức dậy, điện thoại tràn ngập tin nhắn chúc mừng. An An gửi một cái lì xì to đùng, kèm theo lời nhắn: “Chúc Ôn Tiểu Hạ nhà ta sớm ngày thoát ế.”

Mẹ tôi gọi hai cuộc tôi không nghe máy, đến cuộc thứ ba thì bắt máy. Bà hỏi đầu dây bên kia xem tôi có ăn uống đàng hoàng không, có tìm được đối tượng chưa, sinh nhật định tổ chức thế nào. Tôi ậm ừ qua loa vài câu, rồi ra khỏi giường đánh răng rửa mặt.

Chuông cửa vang lên.

Mở cửa ra, trước mặt là một bó hoa hướng dương vàng rực rỡ, trên bó hoa đính một tấm thiệp. Trên thiệp là nét chữ nắn nót mạnh mẽ của Thẩm Trục Dã:

【Ngôn ngữ của hoa hướng dương là: Em là ánh sáng mà anh mãi mãi theo đuổi. — Thẩm Trục Dã】

Tôi ôm bó hoa, cúi đầu lật đi lật lại xem hồi lâu, rồi nhắn tin cho Thẩm Trục Dã: 【Đã nhận được hoa, cảm ơn anh.】

Anh trả lời ngay trong tích tắc: 【Mở cửa ra.】

Tôi sững lại, bước vội đến bên cửa sổ nhìn xuống dưới.

Xe của anh đậu dưới lầu, người đang tựa vào cửa sau xe, mặc chiếc áo măng tô dài màu xám đậm, quàng chiếc khăn len màu xanh lục sẫm, y hệt cái màu mà lần trước tôi từng bảo là “đẹp”.

Anh ngẩng lên thấy tôi, khẽ vẫy tay.

Tôi vội vàng thay quần áo rồi chạy xuống lầu.

Không khí lạnh lẽo của buổi sáng tháng Mười hai ùa vào mặt, vì vội quá nên tôi không kịp quàng khăn, cổ bị gió thổi lạnh buốt, nhưng lồng ngực thì lại nóng ran.

“Sao anh lại tới đây? Hôm nay không phải thứ Bảy sao?” Tôi đứng trước mặt anh, thở hổn hển.

Anh mỉm cười, rút tay ra khỏi túi áo khoác, giúp tôi vén lại những lọn tóc bị gió thổi tung.

Đầu ngón tay anh mang theo hơi lạnh ngoài trời, không nhanh không chậm vuốt những lọn tóc lòa xòa nơi khóe miệng tôi ra sau tai, phần đệm ngón tay khẽ cọ qua gò má tôi. “Muốn là người đầu tiên nói với em.”

“Nói gì cơ?”

“Chúc mừng sinh nhật, Ôn Hạ.” Hơi thở trắng xóa phả ra khi anh nói phả vào mặt tôi, đôi mắt ấy khẽ cong lên, bên trong toàn là hình bóng tôi.

Tôi cúi đầu nhìn mũi giày mình, đột nhiên không biết nói gì.

Anh đối xử với tôi càng tốt, tôi càng không biết phải đáp lại ra sao. Tôi sợ sau khi tôi đáp lại, anh sẽ đẩy tôi ra giống như năm năm trước.

Cái gai trong lòng tôi vẫn còn đó, dù đã lung lay rồi, nhưng nó vẫn cắm ở đó, thỉnh thoảng lại nhói đau một cái.

“Lên xe đi, hôm nay có lịch trình rồi.” Anh mở cửa ghế phụ cho tôi.

“Đi đâu cơ?”

“Đến nơi rồi em sẽ biết.”

Nơi anh đưa tôi đến là khu vui chơi giải trí.

Khu lớn nhất ở Phụng Thành, có vòng đu quay, tàu lượn siêu tốc, thuyền hải tặc, và đủ các thể loại trò chơi cảm giác mạnh mà hồi bé tôi không dám chơi, lớn lên thì không có thời gian đi.

Khu vui chơi vào mùa đông rất ít người, trong không khí thoang thoảng mùi bắp rang bơ ngọt lịm và mùi kẹo bông gòn nhè nhẹ.

“Sao lại là khu vui chơi?” Tôi tò mò hỏi anh ở cổng vào.

“Vì điều ước năm sinh nhật 18 tuổi của em là muốn được trải qua một lần sinh nhật ở khu vui chơi.”

Anh nắm tay tôi kéo vào trong, “Hồi đó lúc em nói câu này với An An trong lớp học, tôi vô tình đi ngang qua nghe thấy.”

Tôi hoàn toàn không nhớ mình đã từng nói câu này.

“Lại là anh đi ngang qua nghe thấy à?”

“Ừ. Rất nhiều chuyện về em, tôi đều nghe được kiểu đó.” Anh ừ một tiếng, giọng điệu bình thản đến cực điểm.

“Chắc em không biết giọng mình nói to cỡ nào đâu, từng chữ từng chữ chạy tọt vào tai, không muốn nghe cũng không được. Tiếng em đọc thuộc bài vọng xuống chỗ ngồi của tôi ở dãy bàn sau, tiếng em than vãn bài toán quá khó cũng vọng xuống bàn sau, em muốn đón sinh nhật 18 tuổi thế nào, cũng lại vọng xuống bàn sau.”

Tôi nhìn bóng lưng sải bước thênh thang của anh, thầm nghĩ cái con người này thời cấp ba rốt cuộc đã lén ghi nhớ bao nhiêu lời tôi nói cơ chứ.

Anh dẫn tôi đi chơi tàu lượn siêu tốc trước.

Tôi nhắm tịt mắt la hét từ đầu đến cuối, hai tay bám chặt lấy cánh tay anh, móng tay chắc bấu cả vào lớp vải tay áo khoác măng tô của anh mất.

Còn anh thì mở mắt suốt toàn bộ hành trình, cười vang bên cạnh tôi. Cái tiếng cười sảng khoái hòa lẫn trong tiếng rít của tàu lượn siêu tốc ấy, là điệu cười không hề mang gánh nặng mà tôi chưa từng được nghe.

Lúc lao xuống từ điểm cao nhất anh còn hét lên một câu, tôi không nghe rõ, gió to quá thổi bít cả hai tai tôi lại rồi.

Lúc xuống xe, tôi bám vào lan can thở dốc. Anh tiến đến từ phía sau, quàng một chiếc khăn len cashmere mềm mại lên cổ tôi.

“Lúc nãy ở trên cao nhất anh hét cái gì thế?” Tôi hỏi anh.

“Có hét gì đâu.” Anh chỉnh lại khăn cho ngay ngắn, vỗ vai tôi, “Tiếp theo còn nhà ma nữa, em dám đi không?”

“Chẳng phải anh sợ ma sao?” Tôi nhớ lại chuyện hồi cấp ba trường tổ chức xem phim kinh dị, Thẩm Trục Dã cúi gằm mặt vờ buộc dây giày từ đầu đến cuối, nhịn không được phì cười.

“… Hồi cấp ba sợ, giờ không sợ nữa.” Anh nói dối không chớp mắt.

Kết quả là trong nhà ma, tôi bị một mô hình bộ xương nhảy xổ ra từ trong bóng tối dọa cho đâm sầm vào ngực anh. Anh thuận tay đỡ lấy tôi, bật cười trầm thấp trên đỉnh đầu tôi: “Còn bảo tôi sợ? Em cũng có gan dạ gì đâu?”

Tôi đẩy anh ra đi nhanh về phía trước, nhưng chưa được 5 bước anh đã đuổi kịp, sau đó tay tôi bị anh nắm chặt nhét gọn trong lòng bàn tay.

Cuối cùng anh dẫn tôi đến chơi vòng đu quay khổng lồ.

Khi vòng quay lên tới điểm cao nhất, toàn cảnh Phụng Thành thu trọn vào tầm mắt.

Mặt trời đang từ từ lặn xuống rặng núi phía Tây, ánh sáng đỏ cam nhuộm mặt sông thành một dải gấm vóc trải dài.

Quần thể nhà kho bến tàu cũ, quảng trường ven sông mới xây, khu phố văn hóa sáng tạo đang thi công ở đằng xa… tất cả đều được bao phủ bởi ánh hoàng hôn vàng rực rỡ này.

“Ôn Hạ, em còn nhớ bảo tàng ký ức đô thị em thiết kế không?” Anh đột ngột lên tiếng, giọng nói vang lên rõ mồn một trong cabin kín kẽ.

“Nhớ chứ, đó là điểm nút khó nhất trong phương án của tôi mà, sửa đi sửa lại năm sáu bận anh mới chịu ký duyệt.”

“Trong bảo tàng đó, em có chừa lại nguyên một bức tường trống ở cuối cùng, bảo là chưa nghĩ ra nên làm gì.” Anh quay đầu nhìn tôi, trong mắt phản chiếu ánh hoàng hôn và ráng chiều rực rỡ ngoài cửa sổ,

“Tôi nghĩ ra nên làm gì rồi.”

“Làm gì?”

“Làm một ‘Bức tường tình thư đô thị’.” Anh tựa lưng vào ghế, nghiêng đầu nhìn tôi, giọng nói nhạt nhẽo như thể thuận miệng nhắc tới, “Để mỗi người đến tham quan đều có thể viết một câu lên đó, viết cho thành phố này, hoặc viết cho người mình thích.”

Cabin từ từ hạ xuống trong ánh chiều tà. Trên mặt sông xa xa, một con tàu chở hàng kéo còi, âm thanh trầm đục, vang lên như một tiếng tù và cất vọng.

Tôi im lặng một lúc, cảm thấy chỉ nhiêu đó thôi là chưa đủ.

“Thêm một thiết bị tương tác nữa đi.” Tôi nói, “Các cặp đôi sẽ viết tên nhau lên một tấm thẻ nhỏ có hình dáng giống như chiếc vé tàu cũ, rồi dùng kìm bấm vé ngày xưa bấm một lỗ, thả vào hộp thu thập trong suốt. Khi dự án hoàn thành, hộp thu thập đầy, tôi có thể khảm những cái tên đó lên bức tường ghi danh ở cuối bảo tàng.”

Nghe xong câu đó, Thẩm Trục Dã im lặng khoảng mười giây.

Sau đó, anh móc từ túi áo khoác trong ra một cuốn sổ tay nhỏ bằng da bò và một cây bút máy ngắn.

Cuốn sổ nhỏ đó trông có vẻ đã được lật giở rất nhiều lần, phần mép đã hơi sờn cũ.

Anh không mở trang mới, mà xé phần nếp gấp bí mật ở mặt trong bìa sau, lấy ra một chiếc vé tàu cũ được gấp đôi.

Tấm vé đó là một chiếc vé tàu cũ thật sự, chất giấy đã ngả vàng, phần viền hơi giòn, bên trên in chữ “Phụng Thành – Lâm Giang”, dấu ngày tháng đã là chuyện của rất nhiều năm về trước rồi.

Anh kẹp tấm vé tàu nhìn chừng hai giây, rồi cúi đầu, dùng bút máy viết lên mặt sau chiếc vé hai chữ.

Từng nét từng nét, nắn nót và mạnh mẽ.

“Thẩm Trục Dã”. Ngay đằng sau, anh viết tiếp “Ôn Hạ”.

Viết xong, anh lật chiếc vé lại, để tôi xem hai chữ ở mặt sau đó.

Tên của tôi.

Bộ chấm thủy trong chữ “Ôn” (温) được anh viết hơi to hơn một chút so với nửa còn lại, giống như đang chứa đựng một tâm tư giấu kín nào đó.

Thẩm Trục Dã ngẩng đầu nhìn tôi, đôi mắt nâu sẫm ấy phản chiếu tia sáng cuối cùng của ráng chiều ngoài cửa sổ vòng quay.

“Vậy thì bắt đầu từ chúng ta nhé.” Anh nói.

Hốc mắt tôi đột nhiên nóng ran.

Không phải vì cảm động, mà vì nhìn qua là biết tấm vé tàu này là một món đồ cũ được cất giữ cẩn thận nhiều năm, là thứ anh mang từ nhà đi.

Không phải anh cố tình mang theo để chờ lên vòng đu quay mới lấy ra cho tôi xem – anh vốn không hề biết hôm nay tôi sẽ đưa ra gợi ý đó. Là anh vẫn luôn mang tấm vé tàu này bên mình.

“Thẩm Trục Dã.” Tôi mở miệng, giọng nói hơi bồng bềnh.

“Ừ.”

“Tại sao anh lại luôn mang theo tấm vé tàu cũ này bên người?”

Anh cụp mắt, ngón cái vuốt ve nếp gấp trên viền vé tàu, im lặng khoảng năm giây.

Rồi anh cất giọng, âm thanh rất khẽ, như sợ làm kinh động đến điều gì.

“Nhiều năm trước, khi bố tôi còn sống, có một lần ông mua được vài tấm vé tàu cũ như thế này ở chợ đồ cũ. Tấm vé ông thích nhất chính là tấm này, chuyến Phụng Thành đi Lâm Giang. Ông bảo đây là ký ức thuở nhỏ ông theo ông nội ra bến tàu xem tàu thủy. Về sau ông đưa tấm vé này cho tôi, bảo là sau này nếu gặp được người quan trọng, có thể lấy làm quà tặng.”

Anh ngừng lại một chút.

“Tôi vẫn luôn giữ nó. Hồi cấp ba đã muốn tặng em, nhưng chưa đưa được.”

Anh gập đôi chiếc vé lại một lần nữa, đặt vào tay tôi. Những ngón tay tôi siết chặt mẩu giấy ố vàng ấy, cảm giác như lòng bàn tay mình vừa bị một thứ gì đó làm bỏng rát.

Cabin vòng quay từ từ hạ xuống mặt đất. Khi chúng tôi bước ra khỏi khu vui chơi, trời đã tối mịt.

Trên quảng trường đằng xa có vài đứa trẻ đang đốt pháo hoa nhỏ, những tia lửa vàng rực từng chùm từng chùm bung nở rồi tan biến trong bầu trời đêm.

“Thẩm Trục Dã.” Tôi dừng bước.

“Ừ.”

“Điều ước năm sinh nhật 18 tuổi của em là được đón sinh nhật ở khu vui chơi, điều này anh đã giúp em thực hiện rồi. Nhưng hôm đó em còn ước một điều thứ hai nữa…”

Tôi hít một hơi thật sâu cái không khí trong veo lạnh lẽo của tháng Mười hai, trái tim trong lồng ngực đập dồn dập như đánh trống, “Em ước một ngày nào đó, Thẩm Trục Dã cũng sẽ thích em.”

Anh đứng trước mặt tôi, ánh đèn đường từ phía sau hắt tới, phủ lên vai anh một lớp sáng vàng ấm áp. Lông mày anh hơi giật nhẹ, rồi anh từ từ cong khóe miệng lên.

Ý cười đó lan từ khóe miệng đến đuôi mắt, trải rộng ra khí chất của cả con người anh, giống như ngọn lửa lò sưởi đầu tiên cháy lên trong đêm đông.

“Thế thì cái điều ước đó, chẳng phải tôi đã giúp em thực hiện từ lâu rồi sao.” Khi anh nói câu này, giọng cực kỳ chậm rãi và trầm thấp, giống như đang nhẹ nhàng vẽ nên một dấu chấm hết cho câu trả lời đã đợi chờ quá lâu.

Sau đó anh hơi cúi người xuống, bàn tay đỡ lấy gáy tôi, cúi đầu hôn tôi.

Đây là lần đầu tiên anh hôn tôi khi tôi trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo. Lực chạm của đôi môi dịu dàng hơn bất cứ lúc nào, như sợ làm vỡ một món đồ quý giá.

Mùi hương gỗ thông nhạt trên người anh quyện cùng không khí lạnh lẽo của đêm đông tràn vào mọi giác quan của tôi.

Nụ hôn này rất dài, dài đến mức tôi có cảm giác trái tim mình sắp nhảy khỏi lồng ngực.

Lúc tách ra, anh lùi lại một chút xíu, chóp mũi vẫn chạm chóp mũi tôi, hơi thở vương vấn trên môi tôi, nóng rực và gấp gáp.

“Ôn Hạ, anh thích em. Năm năm trước đã thích em, cho đến hôm nay vẫn thích em.” Ngón cái của anh lướt từ gò má tôi xuống sau tai, dừng lại ở dái tai, nhẹ nhàng, chậm rãi vuốt ve, “Bắt đầu từ bây giờ, anh không làm Bên A của em nữa. Làm bạn trai em.”

Giọng điệu khi anh nói câu này là câu trần thuật, chứ không phải câu hỏi.

Thẩm Trục Dã xưa nay chưa từng đánh trận nào mà không nắm chắc phần thắng, câu trả lời này anh đã đợi 5 năm rồi, chẳng cần đợi tôi gật đầu anh cũng đã biết tỏng câu trả lời.

Tôi kiễng chân, thơm nhẹ lên cằm anh một cái.

“Vậy thì em sẽ thêm một lời cảm ơn đặc biệt vào mục thiết kế của dự án nhé.”

“Cảm ơn ai?”

“Cảm ơn Sếp Thẩm của Bên A,” tôi nói, giọng nói bị gió đêm thổi tan rồi lại tụ vào một chỗ, “Cảm ơn anh đã trả lại lá thư tình tuổi mười bảy cho em.”

***

Tuần đầu tiên sau khi chính thức ở bên nhau, mọi sóng yên biển lặng.

Tôi và Thẩm Trục Dã ăn ý quyết định tạm thời chưa công khai. Dù sao thì dự án vẫn đang trong giai đoạn thi công, Bên A và Bên B yêu nhau đồn ra ngoài nghe cũng không hay ho cho lắm.

Ngay cả An An tôi cũng chưa nói. Dù tôi cảm giác đa phần là cô ấy cũng đoán ra rồi, bởi dạo gần đây tin nhắn trong nhóm chị em toàn ngập tràn mấy cái meme đầy ẩn ý kiểu “Chèo thuyền thành công rồi”, “Người hiểu tự khắc hiểu”, “Ai đó dạo này sắc mặt tươi tắn gớm nhỉ”.

Đánh giá của Thẩm Trục Dã về chuyện này là: “Bạn thân của em thông minh hơn em đấy. Cô ấy nhìn ra từ lâu rồi.”

“Thế anh nghĩ chúng ta còn giấu được bao lâu?”

“Không biết,” anh ngẫm nghĩ một chút, khóe miệng nhếch lên, “Nhưng mà anh không muốn giấu lắm đâu. Chuyện sớm muộn thôi.”

Khi anh nói câu “Anh không muốn giấu lắm”, ngữ điệu rất tùy ý, nhưng tôi thấy tay phải của anh vô thức sờ vào túi trong của áo vest. Nơi anh thường đựng bút máy và cuốn sổ da bò nhỏ.

Về sau tôi mới biết anh đã bọc tấm vé tàu cũ viết tên hai đứa bằng một cái vỏ nhựa trong suốt, cất trong chiếc túi đó.

Luôn mang theo bên mình. Đi họp mang theo, đi công tác mang theo, thậm chí đến công trường leo giàn giáo cũng mang theo.

Sang tuần thứ hai, anh làm một chuyện khiến tôi giờ nghĩ lại vẫn đỏ mặt.

Hôm đó là buổi họp giao ban bộ phận định kỳ ngày thứ Hai, Văn hóa Trục Dã và đội ngũ thiết kế của chúng tôi cùng họp bàn về tiến độ.

Thẩm Trục Dã ngồi ở vị trí chủ tọa chiếc bàn dài, ống tay áo sơ mi xắn lên hai nếp, trong tay lật giở danh sách lựa chọn đèn chiếu sáng mà tôi đệ trình.

Trong phòng họp có mười mấy người, bao gồm sếp Lâm, hai giám đốc cấp cao của Văn hóa Trục Dã, giám đốc dự án của đơn vị thi công, và vài đại diện của các nhà cung cấp vật liệu.

“Nhà thiết kế Ôn, nhiệt độ màu của loại đèn này cô đang để 3000K, nhưng màu tường chủ đạo của phòng triển lãm là màu xám lạnh. Đánh đèn 3000K lên sẽ bị ngả vàng, tổng thể phòng triển lãm sẽ trông tù mù.”

Thẩm Trục Dã ngẩng lên nhìn tôi, giọng điệu đúng chuẩn việc công xử lý theo phép công, “Đổi sang loại 4000K đi, để màu ánh sáng trung tính hơn một chút.”

“Vâng sếp Thẩm, tôi về sẽ điều chỉnh.”

Tôi cúi đầu ghi chú vào sổ, cố gắng giữ nét mặt chuyên nghiệp.

Sau đó anh lại hỏi thêm vài vấn đề về lựa chọn vật liệu, tôi cũng lần lượt trả lời hết.

Nửa sau của cuộc họp, anh liên tục xác nhận các mốc thời gian thi công với giám đốc dự án bên nhà thầu, tôi tranh thủ lúc đó lén liếc anh một cái.

Anh đang nghiêng đầu, dùng đầu bút chỉ vào một con số trên bảng tiến độ, từng khoản từng khoản khớp lại phương án thi công xen kẽ với giám đốc dự án. Góc nghiêng của anh dưới ánh đèn trong phòng trông đặc biệt lạnh lùng sắc bén, xương hàm căng cứng, ánh mắt tập trung và nhạy bén.

Thẩm Trục Dã trong trạng thái này hoàn toàn khác biệt với Thẩm Trục Dã đã giúp tôi quàng khăn ở khu vui chơi, hay người đã cúi đầu viết tên tôi lên tấm vé tàu cũ trong vòng đu quay.

Và rồi tôi để ý thấy ở gốc ngón áp út tay trái của anh có thêm một chiếc nhẫn bạc.

Chiếc nhẫn đó sáng nay tôi cũng vừa thấy. Trước gương. Hôm qua anh lén nhét vào túi xách của tôi, một cặp nhẫn trơn, chẳng có hoa văn gì cả, mặt trong có khắc một dòng chữ viết tắt rất nhỏ: T.T.D & Ô.H.  (Thẩm Trục Dã & Ôn Hạ).

Anh bảo, không công khai là một chuyện, nhưng đồ thì vẫn phải đeo. Thiết kế của Bên B không thể phô trương ân ái, nhưng đeo chiếc nhẫn thì có phạm pháp đâu chứ.

Cuộc họp lúc này tôi chưa tháo, của anh cũng không tháo.

“À này, sếp Thẩm,” Một đại diện nhà cung cấp vật liệu bên cạnh đột nhiên cười hỏi một câu, “Nhẫn này sếp mới mua à? Trước đây hình như chưa thấy sếp đeo bao giờ.”

Ánh mắt của cả phòng họp ngay lập tức đổ dồn vào tay trái Thẩm Trục Dã.

Động tác bưng chén trà của sếp Lâm khựng lại giữa không trung, lông mày khẽ nhếch lên.

Vị giám đốc cấp cao của Văn hóa Trục Dã bên cạnh cũng sửng sốt, ánh mắt dời từ chiếc nhẫn lên mặt Thẩm Trục Dã, rồi lại quét qua mặt tôi.

Bàn tay lật tài liệu của Thẩm Trục Dã khựng lại một nhịp.

Anh cúi đầu nhìn chiếc nhẫn trên ngón áp út của mình, giống như bây giờ mới nhận ra sự tồn tại của nó, rồi mới ngước mắt lên. Ánh mắt đó dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng họp trông cực kỳ bình tĩnh, bình tĩnh đến mức hơi bất thường.

“Ừ,” anh đáp, giọng đều đều, ngón tay lật tài liệu sang trang tiếp theo lại nhẹ nhàng hơn hẳn, giống như sợ lỡ tay làm gãy nếp góc mép giấy, “Đồ cá nhân.”

Không khí trong phòng họp dường như thay đổi một cách vi diệu. Vị giám đốc dự án bên cạnh ho khan một tiếng, giả vờ xem điện thoại.

Sếp Lâm uống một ngụm trà, ánh mắt đảo đi đảo lại giữa tôi và Thẩm Trục Dã một vòng. Tên cung cấp vật liệu cũng biết điều không hỏi tiếp.

Chỉ có An An. Cô ấy tham dự cuộc họp này với tư cách là quản lý hành chính công ty chúng tôi, gửi cho tôi một tin nhắn WeChat, nội dung chỉ vỏn vẹn sáu chữ: 【He he, đồ cá nhân.】

Tôi gửi trả một biểu tượng giơ ngón tay giữa.

Tối hôm đó, Thẩm Trục Dã lái xe đưa tôi về nhà. Trong lúc chờ đèn đỏ, anh đột nhiên vươn tay nắm lấy bàn tay trái tôi đang đặt trên đầu gối.

Ngón tay anh đan vào kẽ tay tôi, hai chiếc nhẫn chạm vào nhau dưới ánh sáng mờ ảo của bảng điều khiển, phát ra tiếng động cọ xát rất khẽ.

“Hôm nay lúc họp có người hỏi anh về chiếc nhẫn,” anh nói, ngón cái khẽ vuốt ve khớp ngón áp út của tôi, “Anh bảo là đồ cá nhân. Em có để tâm không?”

“Không sao. Bây giờ công khai không tốt lắm, dự án vẫn đang thi công.”

“Ừ.” Anh đáp lại một tiếng, rồi quay đầu sang nhìn tôi. Ánh đèn đường bên ngoài cửa xe chiếu vào, đôi mắt anh nơi ranh giới sáng tối trông vô cùng sâu thẳm, “Nhưng sớm muộn gì anh cũng sẽ cho cả Phụng Thành này biết, Ôn Hạ là của Thẩm Trục Dã.”

Giọng điệu khi anh nói câu này vẫn bình thản như cũ, giống như đang trần thuật một sự thật hiển nhiên chắc chắn sẽ xảy ra và không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai.

Bị anh nhìn đến mức đỏ bừng mặt, tôi rút tay ra quay đầu vờ nhìn ra ngoài cửa sổ.

Bên ngoài cửa sổ là khung cảnh đường phố đìu hiu tháng Mười hai của Phụng Thành, nhưng tôi lại nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình trên lớp kính, khóe miệng tôi đang cong tít lên.

***

Tuần thứ ba sau khi yêu nhau, anh lên kế hoạch tổ chức một sự kiện trong ngành.

Danh nghĩa là “Hội thảo Tương lai Phát triển Ngành Công nghiệp Văn hóa Sáng tạo Phụng Thành” do Văn hóa Trục Dã dẫn dắt, nhưng thực chất – theo lời anh tự khai sau này – chính là “Mượn cơ hội cả thành phố đang theo dõi, để chính thức giới thiệu Ôn Hạ với toàn ngành”.

Trước sự kiện ba ngày anh mới “tiện thể” thông báo cho tôi. Tối hôm đó anh vẫn đến dưới lầu công ty đón tôi như thường lệ, vừa lên xe anh đã quăng cho tôi một kẹp tài liệu.

Mở ra xem, đó là danh sách khách mời tham dự, trên đó liệt kê rành rành tên tuổi của hầu hết các công ty thiết kế và tổ chức văn hóa sáng tạo có máu mặt ở Phụng Thành.

Còn trong cột khách mời phát biểu, hai chữ “Ôn Hạ” chễm chệ ở vị trí số hai, xếp trên cả một loạt các tiền bối trong ngành, chỉ đứng sau đích thân Thẩm Trục Dã.

“Cái này là sao đây?” Tôi giơ kẹp tài liệu lên hỏi anh.

“Sự kiện thứ Bảy tuần sau, em với tư cách là tổng công trình sư của khu phố văn hóa Lâm Giang sẽ có bài phát biểu chính.” Anh nổ máy xe, giọng điệu như đang nói hôm nay thời tiết đẹp lắm.

“Sao tôi lại không biết mình phải lên phát biểu chính?”

“Bây giờ em biết rồi đấy.” Anh chuyển làn đường, mắt nhìn thẳng phía trước, nhưng độ cong của khóe miệng đã tố cáo anh.

“Chẳng phải em luôn miệng ca cẩm là phương án của em bị sửa đi sửa lại bao nhiêu lần sao? Ngành này cần phải nhìn thấy em. Để sau này mỗi lần nhận dự án em đỡ phải mất công giải thích từ đầu em là ai, năng lực của em ở tầm nào. Lần này để cả Phụng Thành này biết em luôn.”

Tôi há miệng, định bảo “Anh làm thế này là độc tài quá đấy”, nhưng nhìn góc nghiêng của anh, biểu cảm đó rõ ràng đang nói: *Tôi cứ thích cho tất cả mọi người biết, bản thiết kế chính do bạn gái tôi làm tốt đến mức nào.*

Người đàn ông này, ngoài miệng thì nói “Không phô trương ân ái ở nơi công cộng”, nhưng sau lưng thì làm toàn những chuyện quá quắt.

Tôi chợt nhớ đến chuyện lần trước anh không cho tôi lấy tay che cổ trong lúc họp.

Lần đó anh lừa tôi là dấu hôn biến mất rồi, kết quả cái động tác lấy tay che cổ của tôi lại càng giống  lạy ông tôi ở bụi này hơn.

Sau việc đó anh còn bảo: “Lần sau đừng có lấy tay che cổ trước mặt người khác, lộ liễu lắm.” Lúc đó tôi còn tưởng anh đang trêu tôi. Giờ nghĩ lại, thực ra anh đã tính toán hết cho tôi từ sớm rồi. Ngay từ lúc bắt đầu, anh đã chẳng hề có ý định giấu giếm.

Thứ Bảy hôm đó, phòng tiệc tầng 3 Trung tâm Hội nghị Quốc tế Phụng Thành chật kín không còn một chỗ trống.

Bên dưới chỗ ngồi đen kịt gần ba trăm người, tập hợp gần một nửa giới văn hóa sáng tạo của Phụng Thành.

An An ngồi ở hàng thứ ba, trước mặt bày một cái máy ảnh to đùng, ống kính chĩa thẳng vào tôi từ đầu đến cuối không chịu hạ xuống.

Sếp Lâm ngồi cạnh cô ấy, quần áo chỉnh tề, khuôn mặt toát lên vẻ tự hào kiểu “Đây là nhà thiết kế do tôi đào tạo ra”.

Thẩm Trục Dã với tư cách là người phụ trách đơn vị tổ chức lên phát biểu khai mạc đầu tiên.

Anh mặc bộ vest ba mảnh màu xám đậm, cà vạt là chiếc tôi tặng anh, nền xanh sẫm chìm, không phô trương nhưng chất liệu cực kỳ tốt.

Anh đứng trên bục, một tay giữ micro, phong thái thong dong, nhàn nhã, nói về định hướng tương lai của ngành văn hóa sáng tạo Phụng Thành. Đèn flash máy ảnh dưới khán đài chớp nháy liên tục không biết bao nhiêu vòng.

Tôi đứng nấp cạnh tấm màn ở cánh gà, qua lớp nhung dày cộm nhìn xuống đám đông đen kịt bên dưới, lòng bàn tay đổ đầy mồ hôi lạnh.

Tôi hít sâu, tự nhủ: *Mày chỉ là một cốc nước ấm chưa kịp uống thôi, mày là chất lỏng mày là chất lỏng, căng thẳng là chất rắn cơ, mày không phải.*

Cái liệu pháp ám thị tâm lý kỳ cục này tôi đọc được trong một cuốn tạp chí thiết kế hồi đại học, trước mỗi lần lên sân khấu tôi đều lẩm nhẩm một lần, hiệu quả lúc tốt lúc không.

Rồi Thẩm Trục Dã nói xong. Cùng lúc tràng pháo tay nổ ra, anh đột nhiên quay người về hướng cánh gà, hơi giơ tay, làm một động tác mời về phía tôi.

“Sau đây xin trân trọng kính mời tổng công trình sư của dự án Khu phố Văn hóa Sáng tạo Lâm Giang, nhà thiết kế Ôn Hạ của Thiết kế Cảnh Duy, lên chia sẻ về ý tưởng thiết kế và những ký ức đô thị đằng sau dự án này.”

Tôi hít một hơi thật sâu, nắm chặt bút lật slide bước ra sân khấu. Ánh đèn tụ quang chiếu thẳng vào mặt, nóng đến mức tôi phải hơi nheo mắt lại.

Hơn ba trăm đôi mắt đồng loạt hướng về phía tôi.

Tôi bước ra giữa sân khấu, khoảnh khắc lướt qua vai anh, ngón tay anh ở một góc khuất mà người khác không nhìn thấy khẽ nắm chặt lấy mu bàn tay tôi một cái.

Tay anh vừa ấm lại vừa vững vàng.

“Mạnh dạn lên, nhà thiết kế Ôn.” Anh nghiêng đầu, thì thầm cực nhanh cực khẽ bên tai tôi một câu như vậy.

Hơi thở lướt qua vành tai tôi, âm lượng nhỏ đến mức chỉ hai chúng tôi mới nghe thấy. Sau đó anh lùi lại vài bước, đến ngồi ở vị trí ngoài cùng cạnh lối đi của hàng ghế đầu tiên dưới đài, vắt chéo chân, hai tay đan vào nhau đặt trên đầu gối, ánh mắt hướng lên.

Ánh mắt ấy không có lấy một tia lo lắng nào, chỉ có một trăm phần trăm sự tin tưởng tuyệt đối.

Tôi chuyển sang trang slide đầu tiên, hít thở sâu, rồi mở miệng. Micro phóng đại giọng nói của tôi vang vọng khắp phòng tiệc.

“Khu phố văn hóa sáng tạo Lâm Giang, không phải là một dự án xây dựng mới, mà là một dự án ‘tái sinh’. Vị trí cũ của khu phố này là quần thể kho bãi bến tàu thời Dân Quốc của Phụng Thành, từng viên gạch, từng khúc gỗ, từng vết khắc trên tường do công nhân để lại ở đây đều mang bề dày lịch sử hàng thế kỷ. Việc những nhà thiết kế chúng tôi có thể làm, không phải là đi kể lại lịch sử, mà là sáng tạo ra một không gian, để lịch sử tự nó lên tiếng.”

Tôi trình bày từ bối cảnh dự án đến giá trị của bến tàu cũ, từ quan niệm cốt lõi “Tái sinh ký ức” đến nhịp điệu cảm xúc trong từng phòng triển lãm.

Tôi kể về vệt nắng chênh lệch không quá 20 phân trong phòng triển lãm ánh sáng, về đoạn lối đi phục dựng cây cầu ván chòng chành theo tỷ lệ 1:1 ở lối vào bảo tàng ký ức đô thị, và cả bức “Tường tình thư đô thị” được chừa lại ở phần cuối cùng để mỗi khách tham quan tự viết lên.

Tôi thậm chí còn kể cả câu chuyện về tấm vé tàu cũ đó.

Tất nhiên, tôi không nói tấm vé tàu đó hiện giờ đang nằm trong túi trong áo vest của người đàn ông ngồi ngay phía sau tôi.

Dưới khán đài vang lên mấy đợt vỗ tay, lần nào tôi cũng đợi tràng pháo tay dứt hẳn mới tiếp tục.

An An ngồi ở hàng thứ ba, suốt buổi cứ giơ máy ảnh lên, hốc mắt đỏ hoe như vừa bị ai ăn hiếp.

Nói xong, tôi khẽ cúi người chào.

Tiếng vỗ tay từ dưới khán đài dội lên một cách chậm rãi và chân thành, đó không phải là phép lịch sự hời hợt của những buổi hội nghị, mà là sự tán thưởng tự nguyện của cả hội trường dành cho tôi.

MC tiếp quản lại micro. Đến phần Q&A, có vài người đặt câu hỏi, tôi đứng trên sân khấu lần lượt trả lời từng người một.

Câu hỏi cuối cùng là của một cô gái trẻ ngồi tít hàng ghế phía sau, trông giống như một nhà thiết kế mới vào nghề, đeo kính gọng tròn, giọng nói hơi run run căng thẳng.

“Nhà thiết kế Ôn, tôi muốn hỏi một chút, trong quá trình thiết kế dự án này, thử thách lớn nhất mà chị gặp phải là gì? Chị đã vượt qua nó như thế nào?”

Tôi suy nghĩ vài giây, rồi đưa micro lên sát miệng.

“Thử thách lớn nhất, có lẽ là quá trình mài giũa với Bên A.” Dưới khán đài vang lên một tràng cười khẽ.

Tôi nói tiếp, “Khách hàng của dự án này… Cũng tức là sếp Thẩm của Văn hóa Trục Dã, là một người vô cùng vô cùng khắt khe. Phương án của tôi bị anh ấy trả về yêu cầu sửa tới năm lần. Lần nào anh ấy cũng moi ra được một lỗi mới, lần nào tôi cũng tưởng mình đã làm đến mức giới hạn rồi, nhưng anh ấy vẫn nói với tôi là, cô vẫn chưa.”

Tiếng cười dưới khán đài vang lên to hơn, vài nhân viên của Văn hóa Trục Dã lén liếc nhìn Thẩm Trục Dã đang ngồi ở hàng ghế đầu.

Anh khẽ rướn mày, cười như không cười, một ngón tay chống cằm, không nhìn ra chút lúng túng nào, ngược lại còn toát lên vẻ ung dung thản nhiên chấp nhận khi bị điểm danh trước đám đông.

“Nhưng cũng chính vì anh ấy ép tôi, tôi mới tạo ra được tác phẩm mà bản thân thực sự tâm đắc.”

Tôi dừng lại một nhịp, rồi nói một câu mà chỉ có anh mới hiểu được lớp nghĩa ẩn sau màn báo cáo chuyên môn này, “Vậy nên tôi muốn mượn cơ hội này nói một tiếng cảm ơn, cảm ơn Bên A là Sếp Thẩm, cảm ơn anh vì đã không hài lòng với tôi ngay từ bản phác thảo đầu tiên.”

Cả phòng tiệc tĩnh lặng vài giây, rồi bùng nổ tràng pháo tay nhiệt liệt nhất ngày hôm đó.

Tôi không biết bên dưới có bao nhiêu người hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu nói đó, nhưng Thẩm Trục Dã ngồi hàng ghế đầu tiên đã hiểu.

Khóe miệng anh mím lại rồi từ từ cong lên, chiếc nhẫn trên tay trái hơi lấp lánh dưới ánh đèn.

***

Sau khi giải tán, các vị khách khứa ùn ùn kéo tới trao đổi danh thiếp với tôi.

Một vị tiền bối tóc hoa râm bên Cục quy hoạch vỗ vai tôi khen ngợi: “Người trẻ có ý tưởng lắm, giới văn hóa sáng tạo Phụng Thành có người kế thừa rồi.”

Mấy người đồng nghiệp kéo tôi lại hỏi chi tiết thi công cấu trúc và vật liệu, còn có hai công ty thiết kế ngỏ lời mời mọc ngay tại chỗ, nói sau này có cơ hội hợp tác.

An An đứng ngoài rìa đám đông, kiễng chân nháy mắt ra hiệu với tôi, đại ý là “Lát nữa đừng đi vội tớ có chuyện muốn hỏi cậu”.

Nhưng cô ấy chưa kịp chen vào thì Thẩm Trục Dã đã bước tới trước.

Anh len qua khe hở nhỏ xíu giữa đám đông, dừng lại vững vàng ngay trước mặt tôi, trước ánh mắt của một đám người trong giới vẫn chưa tản đi hết, hơi cúi đầu, giơ tay ra với tôi.

Thái độ chuẩn mực và chừng mực, ngữ điệu được đắn đo đúng điệu hợp tác công việc bình thường giữa Bên A và Bên B, chỉ có âm cuối là hơi kéo dài ra nửa nhịp.

“Nhà thiết kế Ôn, vất vả rồi. Hôm nay biểu hiện rất xuất sắc.”

Tôi nắm lấy tay anh.

Lòng bàn tay anh khô ráo ấm áp, ngón cái ấn một cái cực nhanh cực nhẹ lên mu bàn tay tôi, rồi buông ra.

Những người xung quanh không ai để ý đến hành động nhỏ nhặt ấy. Nhưng cảm giác đụng chạm trong một giây đồng hồ đó cứ vương lại trên mu bàn tay tôi rất lâu, giống như một dấu ấn vô hình.

***

Ngày diễn ra tiệc mừng công là một cuộc tụ tập lớn của toàn bộ nhóm dự án.

Tất cả mọi người ngồi quây quần trong quán lẩu, nồi nước lẩu cay sùng sục sôi, mùi thơm bốc lên ngùn ngụt.

Trên bàn bày la liệt các món ăn, bia mở hết chai này đến chai khác, mọi người đều rất thoải mái.

Từ lúc tham gia dự án đến giờ, đây là lần đầu tiên tôi thấy Thẩm Trục Dã cởi bỏ áo vest, chỉ mặc một chiếc áo len cổ lọ màu đen, ngồi trong góc sofa, cầm chai bia cụng thẳng với đội trưởng đội thi công.

Giám đốc thi công hiện trường giơ ly bia ồn ào đòi mời rượi sếp Thẩm, bảo anh ngày nào cũng giám sát công trường, phơi nắng đen hơn cả đám dân công bọn họ, cả góc bàn cười ầm lên.

Tôi cũng uống rượu.

Bị một đám đồng nghiệp luân phiên mời mọc, An An ở bên cạnh lại còn thêm mắm dặm muối, tửu lượng của tôi vốn đã cùi bắp, chưa qua mấy vòng đã choáng váng.

Lúc tàn tiệc, bước chân tôi đã bắt đầu liêu xiêu. An An đã chuồn trước từ đời nào, lúc đi còn nháy mắt với tôi một cái.

App gọi xe của Thẩm Trục Dã hiện thông báo phải đợi hơn 40 người nữa. Anh liếc nhìn điện thoại, rồi ấn tắt màn hình.

“Thôi, đi bộ đưa em về vậy.” Anh nói.

“Đi bộ? Chỗ này cách nhà tôi bốn cây số lận.” Tôi nói chuyện mà lưỡi đã líu lại.

“Thì đi bộ bốn cây số. Tiện thể giã rượu luôn.”

Gió đêm tháng Mười Hai rất lạnh, trên đường đi bộ ven sông chẳng có mấy người.

Anh cởi khăn quàng cổ của mình ra, quàng vào cổ tôi, động tác thuần thục như đã làm vô số lần.

Trên khăn vẫn còn vương nhiệt độ cơ thể anh và mùi hương gỗ thông thoang thoảng.

Tay anh cố ý hay vô ý mà chạm thử lên trán tôi, khẽ nhíu mày, trầm giọng nói: “Em uống rượu vào là rất dễ ốm, sau này phải quản cho chặt mới được.”

Hai tay sát lại gần nhau, ngón út của anh sượt qua mu bàn tay tôi. Một lần là tình cờ, hai lần thì chắc chắn là cố ý.

Lần thứ hai, ngón tay anh dứt khoát không giấu giếm nữa, trực tiếp luồn qua kẽ tay tôi rồi từ từ siết chặt lại, như đang chậm rãi khóa lại một chiếc còng.

Tôi khẽ rùng mình một cái trong gió đêm. Hơi rượu bốc lên, lá gan cũng to hơn gấp bội. Tôi dừng bước, anh quay đầu lại nhìn tôi.

“Thẩm Trục Dã,” tôi lên tiếng, giọng nói bị gió sông thổi dạt đi rồi lại tụ về, “Chúng ta kết hôn đi.”

Ba chữ này buột miệng nói ra xong, chính tôi là người sững sờ đầu tiên. Thẩm Trục Dã cũng sững sờ.

Gió sông thổi ào ào, làm rối tung mấy lọn tóc lòa xòa trước trán anh.

Chừng khoảng mười giây, hai chúng tôi không ai nói một lời. Cột đèn bên cạnh kêu rè rè, phía xa xa vẳng lại tiếng còi tàu.

Tôi bụm miệng, cảm thấy cồn đã đốt cháy não mình mất rồi, sao tôi lại có thể nói ra câu như thế chứ…

Nhưng tay anh đã nhúc nhích.

Anh bóp nhẹ cằm tôi, khớp ngón tay tì lên, lực đạo không phải là đang trêu ghẹo, mà là nghiêm túc. Nghiêm túc hơn bất cứ lúc nào.

Đôi mắt ấy sáng quắc dưới ánh đèn đường, tận sâu trong con ngươi có thứ gì đó bị đè nén từ rất lâu đang sục sôi cuộn trào.

“Em nói lại lần nữa xem.”

“Ờm… Tôi có nói gì đâu, tôi say rồi, tôi nói lung tung đấy.”

“Không được. Nói ra rồi thì em là của anh.” Anh lấy điện thoại từ túi áo khoác ra, mở phần ghi chú, cúi đầu gõ từng chữ từng chữ một.

Ánh sáng lạnh từ màn hình hắt lên mặt anh, tôi nhìn thấy dòng chữ anh gõ là:

*”Ngày 14 tháng Mười hai, Ôn Hạ chủ động cầu hôn. Sau tiệc mừng công, đường đi bộ ven sông, nhiệt độ 3 độ C, có gió.”*

Tôi đưa tay ra giành điện thoại của anh: “Anh làm cái gì thế! Tôi cầu hôn bao giờ! Tôi bảo là kết hôn – KẾT HÔN! Hai từ này khác nhau mà!”

Anh ỷ thế chiều cao giơ tay lên tít trên cao, tôi nhảy choi choi mấy cái cũng không với tới, cuối cùng chỉ đành phồng má trừng mắt nhìn anh.

Anh cúi đầu nhìn tôi, khóe miệng từng chút từng chút cong lên. Nụ cười ấy lan từ khóe miệng dần vào tận đáy mắt, giống như được một tin tốt lành đã mong chờ từ rất lâu rất lâu thắp sáng từ trong ra ngoài.

“Đúng là em đã nói câu đó.” Anh quay màn hình điện thoại về phía tôi, lắc lắc, “Nhưng nam chính phía sau nhất định phải là anh.”

***

Khi xe đậu dưới lầu nhà tôi, Thẩm Trục Dã tắt máy nhưng chưa mở khóa cửa xe vội.

Trong xe rất yên tĩnh, lò sưởi vẫn đang phả hơi ấm, radio đang phát một bản nhạc Jazz vô danh nào đó, tiếng kèn saxophone thổi khàn khàn. Anh nắm vô lăng, ngón tay gõ nhẹ hai cái, ánh mắt đậu trên một vệt sáng nhỏ nhoi do đèn đường chiếu rọi bên ngoài cửa sổ.

“Ôn Hạ. Câu mà lúc nãy em nói trên đường…”

“Đã bảo là lời lúc say rồi mà anh còn làm thật…”

“Anh coi là thật đấy.” Anh nghiêng người, khuỷu tay chống lên vô lăng, ngoảnh đầu nhìn tôi, “Từng câu từng chữ em nói anh đều coi là thật. Từ hồi cấp ba cho đến tận bây giờ.”

Bị anh nhìn đến mức lồng ngực nóng rực, tay tôi vô thức sờ tới tay nắm cửa, miệng vẫn còn cố cứng cỏi: “Vậy anh xong đời rồi, cấp ba tôi từng nói anh đánh bóng rổ rất đẹp trai, anh đeo kính cũng rất đẹp trai, anh mặc sơ mi trắng đặc biệt đẹp trai, mấy lời đó anh cũng coi là thật à?”

“Coi là thật hết.” Anh không đổi sắc mặt, “Nên sau đó anh đánh bóng rổ liều mạng hơn bất cứ ai, đeo kính ròng rã suốt ba năm mãi lên đại học mới đổi sang kính áp tròng, đi làm rồi toàn mua áo sơ mi màu trắng.”

Tôi bị cái logic của anh làm cho cạn lời.

Thì ra một người có thể nhớ rõ ràng đến thế những chuyện cũ rích năm xưa, từng điều khoản đưa ra đều liên quan đến tôi.

Tôi đẩy cửa xe ra, gió lạnh lùa vào, thổi tan bớt chút hơi men. Trước khi xuống xe, tôi quay đầu nhìn anh một cái. Anh vẫn đang nhìn tôi, dây an toàn chưa tháo, có vẻ như định đợi đèn phòng tôi sáng lên rồi mới đi.

“Thẩm Trục Dã, anh thích em từ lúc nào vậy?”

Anh ngẫm nghĩ một chút, đèn trần xe chiếu từ trên đỉnh đầu xuống, khiến cả khuôn mặt anh chìm trong một quầng sáng ấm áp, bóng râm của hàng lông mi rủ xuống mí dưới, hơi rung rung.

“Lớp 11, lần đầu tiên em giả vờ đi ngang qua cửa lớp bọn anh. Em giả vờ xem bảng thông báo bên cạnh, nhưng trên bảng dán thông báo thi Olympic Vật lý, em học ban Xã hội, quan tâm cái đó làm gì. Lúc ấy anh đã nghĩ, con bé này diễn dở tệ. Rồi sau khi em đi, anh ngoảnh đầu hỏi thẳng cậu bạn cùng bàn, cô bạn buộc tóc đuôi ngựa vừa đứng ngoài cửa tên là gì.”

“Hôm đó đến phiên anh trực nhật lau bảng. Anh nhớ em mặc áo khoác đồng phục màu xanh rêu, tóc buộc hơi lệch. Lúc đi vì chạy qua ngã rẽ nhanh quá, đuôi tóc vung một cái, đập vào cái hộp tủ cứu hỏa bên cạnh.”

Nói đến đây, anh không nhịn được mỉm cười, “Lúc đó anh thầm nghĩ, cái con bé cứ đâm đầu chạy lung tung này chắc là sợ đau lắm đây.”

Nói xong những lời đó, anh tắt máy xe, đẩy cửa bước xuống, vòng qua đầu xe đi tới phía bên tôi.

Anh đứng trước mặt tôi, hai tay đút trong túi áo măng tô, cúi đầu nhìn tôi.

“Lên nhà đi. Đèn phòng em sáng rồi anh sẽ đi.”

Tôi kiễng chân hôn lên cằm anh một cái.

Anh không nhân cơ hội đó để ôm tôi, cũng không làm nụ hôn sâu thêm, chỉ cụp mắt xuống, dùng ngón cái khẽ cọ qua mu bàn tay tôi.

Tôi quay lưng lên lầu, từng bậc từng bậc cầu thang bước rất nhanh, như sợ mình đi chậm lại sẽ nhịn không được mà quay đầu chạy về bên anh.

Đến chỗ rẽ tầng ba, qua cửa sổ hành lang tôi liếc nhìn ra ngoài.

Xe của anh vẫn đậu dưới lầu.

Anh tựa người vào cửa xe, tay đang xoay xoay thứ gì đó, mãi sau này tôi mới biết đó là lớp bọc thẻ của chiếc vé tàu cũ.

Tôi mở cửa phòng, bật đèn phòng khách.

Anh ngước lên nhìn ô cửa sổ phòng tôi đã sáng đèn ở tầng ba, rồi mở cửa xe ngồi vào trong.

Đèn hậu sáng lên, thứ ánh sáng màu đỏ chầm chậm xa dần trong màn đêm tháng Mười hai.

Tôi tựa lưng vào cửa, cúi đầu nhìn chiếc nhẫn bạc trơn trên ngón áp út tay trái, mặt trong khắc dòng chữ *S.Y&W.X*, bên ngoài chẳng có hoa văn gì cả, giống như một thứ mật mã mà chỉ có hai người mới hiểu.

Rồi tôi cầm điện thoại lên, bấm số gọi cho anh.

“Alô?”

“Thẩm Trục Dã.”

“Ừ.”

“Chuyện em nói ở bờ sông lúc nãy. Chuyện kết hôn ấy, không phải là lời lúc say đâu.”

Đầu dây bên kia im lặng chừng ba giây.

Rồi tôi nghe thấy tiếng anh khẽ cười, tiếng cười men theo dòng điện truyền tới, trầm ấm và dịu dàng, tựa như dòng nước ấm áp chảy qua màng nhĩ.

“Anh biết.” Anh nói.

“Sao anh lại biết nữa rồi?”

“Vì mỗi lần em nói thật lòng, tai em đều sẽ đỏ lên.”

Anh nói, “Hồi cấp ba lúc em tỏ tình tai cũng đỏ. Hôm nay ở bờ sông, tai em đỏ đến mức có thể rán trứng được luôn.”

Tôi phản xạ có điều kiện đưa tay sờ lên tai mình, quả nhiên nóng ran lên thật. Con người này, quan sát tai tôi còn tỉ mỉ hơn cả tôi tự soi gương nữa.

Tôi thẹn quá hóa giận, “Cạch” một tiếng cúp điện thoại.

Vừa cúp máy thì anh gửi đến một tin nhắn WeChat, không có chữ nào, chỉ có một bức ảnh.

Là bức ảnh An An chụp chung cho chúng tôi bằng điện thoại vào cái ngày từ khu vui chơi về.

Đứng trước vòng đu quay khổng lồ của khu vui chơi, ánh đèn điểm xuyết đầy trời đêm, anh đang giúp tôi quàng khăn, còn tôi đang ngước lên nhìn anh.

Khoảnh khắc đó vừa hay tôi mỉm cười, anh cũng mỉm cười, ngược sáng, hai người đều cười trông ngốc xít.

Bên dưới đính kèm một dòng chữ: 【Nếu cầu hôn thành công, nam chính chắc chắn phải là tôi. Miễn thắc mắc.】

Tôi cười lăn lóc một hồi lâu, rồi tắt màn hình điện thoại, ôm gối lăn lộn mấy vòng trên giường.

***

Cuối tháng Mười hai, dự án hoàn thiện. Khu phố văn hóa Lâm Giang chính thức khai trương.

Lễ khánh thành được tổ chức trên quảng trường ven sông mới xây dựng, hàng chục cơ quan truyền thông tề tựu, máy quay ống kính dài ngắn xếp thành hàng ngang.

Lãnh đạo thành phố phát biểu, dùng từ ngữ hết sức hoa mỹ, gọi đây là kiệt tác du lịch văn hóa tiêu biểu của Phụng Thành.

Sau đó đến lượt đại diện Bên A phát biểu. Thẩm Trục Dã bước lên bục, com-lê giày da chỉnh tề, phong thái thong dong, từ đầu chí cuối từng câu từng chữ đều mang đậm giọng điệu chuẩn mực của giới thương gia.

Đến phần cuối bài phát biểu, anh đột nhiên khựng lại một nhịp. Ánh mắt của toàn bộ những người có mặt lập tức đổ dồn về phía anh, ngón tay của các phóng viên treo hờ trên nút bấm chớp ảnh.

“Dự án này đối với cá nhân tôi, còn mang một tầng ý nghĩa đặc biệt.”

Lúc nói câu này anh không nhìn kịch bản. Tiếng bấm máy tách tách dưới khán đài vang lên liên tục.

“Chủ đề ‘Ký ức đô thị’, ban đầu là do nhà thiết kế Ôn Hạ đề xuất, sau đó phương án của cô ấy bị tôi trả về yêu cầu sửa năm lần. Mỗi một lần sửa chữa đều giúp dự án này tiến thêm một bước, đồng thời cũng khiến cá nhân tôi càng thêm kiên định với một chuyện. Thiết kế tốt cần dũng khí, còn một mối quan hệ tốt thì cần sự kiên nhẫn.”

Anh ngừng một chút, rồi nhìn về phía tôi giữa đám đông dưới đài.

“Vì vậy hôm nay, khi dự án này chính thức được hoàn thành và bàn giao cho thành phố, tôi cũng muốn ở đây trao cho nhà thiết kế Ôn một lời đề tựa. Khu phố văn hóa Lâm Giang không phải của riêng tôi, nó thuộc về thành phố này, thuộc về mỗi con người đã từng cống hiến vì nó. Còn điều thuộc về tôi, chính là em.”

Anh gập kịch bản lại, hiện trường im lặng trọn vài giây, sau đó bùng nổ những tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay, tiếng la hét dời non lấp biển.

An An – cô bạn thân kiêm chị em của tôi – hét to nhất, chiếc máy ảnh cơ khổng lồ suýt nữa thì văng khỏi cổ cô ấy.

Sếp Lâm bên cạnh suýt làm đổ cả chén trà. Lãnh đạo đi đầu vỗ tay, các phóng viên thì điên cuồng bấm máy.

Mặt tôi đỏ rần rần từ tận gốc cổ lên tới chân tóc, vội cầm kẹp tài liệu che nửa khuôn mặt, giọng rít qua kẽ răng: “Thẩm Trục Dã anh điên rồi à, trước mặt bao nhiêu phương tiện truyền thông thế này…”

Anh bước xuống từ bục phát biểu, ống tay áo vest cọ qua cổ tay tôi. “Không điên.” Giọng anh ép xuống cực thấp, chỉ đủ để mình tôi nghe thấy, “Là tuyên bố chủ quyền.”

Tối hôm đó, từ vòng bạn bè WeChat, Weibo, nhóm công ty đến nhóm bạn học cấp ba của tôi, tất cả đều bị một tin tức càn quét.

Tin tức lớn nhất trong giới văn hóa sáng tạo Phụng Thành không phải là dự án đoạt giải gì, không phải lãnh đạo thành phố phát biểu bao nhiêu lời, mà là chuyện Tổng giám đốc Văn hóa Trục Dã ngang nhiên tỏ tình tại lễ khai trương.

Trong ảnh chụp màn hình An An gửi, có bài đăng Weibo của một người làm truyền thông, kèm ảnh chụp cảnh Thẩm Trục Dã nhìn tôi tại hiện trường lúc đó, cùng dòng trạng thái vỏn vẹn tám chữ: “Dáng vẻ khi tôi lọt vào mắt xanh của Bên A”.

An An chia sẻ lại và kèm thêm một câu: 【OTP của tôi khóa chết rồi. Chìa khóa tôi ném xuống sông rồi nha.】

Nhóm bạn học cấp ba cũng nổ tung.

Lớp trưởng năm xưa đăng ảnh hiện trường hôm đó lên, tag tôi liên hồi: 【@Ôn Hạ @Thẩm Trục Dã Có tình yêu cuối cùng cũng thuộc về nhau! Tập thể lớp 12A1 xin chúc mừng!!】

Bên dưới là một loạt bình luận “Cuối cùng cũng tới ngày này!”, “Tớ chèo cái thuyền này 5 năm không uổng công mà”, “Ai hồi xưa bảo không có cửa đâu, bị vả mặt đôm đốp rồi nhé”.

Còn có người lôi chuyện cũ mèm ra nhắc lại: “Còn nhớ vụ nhét thư tình vào ngăn bàn thằng béo không hahahahahaha”, kèm theo một đống biểu tượng cười ra nước mắt.

Cậu bạn béo cũng ló mặt: “Tôi đã hy sinh nhiều như vậy, hai người nhất định phải hạnh phúc đấy!”

Trần Độ cũng gửi một tin nhắn: 【Ôn Hạ, lão Thẩm trước lúc theo đuổi cậu, đã gửi một tin nhắn vào nhóm của mấy anh em bọn tôi, tôi chụp màn hình cho cậu xem nhé.】

Trong ảnh chụp màn hình, Thẩm Trục Dã gửi một câu vào nhóm tên là “Chuồng bồ câu”: 【@Tất cả mọi người, sau này đừng ai giới thiệu mối nào cho tôi. Tôi đang theo đuổi người ta rồi. Cô ấy tên là Ôn Hạ. Người tôi thích hồi cấp ba. Bây giờ vẫn vậy.】

Bên dưới có người hỏi: 【Lỡ không theo đuổi được thì sao?】

Thẩm Trục Dã đáp: 【Không được thì cứ theo đuổi tiếp. Theo đuổi cho đến khi cô ấy chịu dừng lại thì thôi.】

Tôi áp điện thoại lên ngực, cười lặng lẽ trong căn phòng lúc đêm khuya rất lâu.

Cười một lúc khóe mắt lại cay cay. Cái thể chất dễ rơi nước mắt này vào những lúc thế này thật là đáng ghét.

Sau đó, tôi mở khung chat với Thẩm Trục Dã.

【Ôn Hạ: Thẩm Trục Dã, em thích anh. Từ cấp ba đến giờ, người em thích vẫn luôn là anh. Cảm ơn anh đã mang bức thư tình tuổi mười bảy trả lại cho em.】

Anh trả lời ngay lập tức bằng một tin nhắn:

【Dã: Chuyện này còn cần em nói sao.】

Ngay sau đó lại bồi thêm một tin nữa: 【Dã: Nhưng mà nghe vẫn thấy bùi tai. Nói nhiều vào. Sau này ngày nào cũng phải nói cho anh nghe.】

Tôi gửi một biểu tượng đảo mắt trắng dã, rồi khóa màn hình điện thoại, vùi mặt vào gối.

Khóe miệng cứ vểnh lên tít tận mang tai, thế nào cũng không đè xuống nổi.

***

Sau này á?

Sau này thì cái tên Thẩm Trục Dã bắt đầu được đà lấn tới.

Hóa ra khi đứng trước người ngoài, anh ta vẫn có thể duy trì chiếc mặt nạ “Sếp Thẩm lạnh lùng, kiềm chế”, bất kể là họp hành hay đàm phán, dẫu đối mặt với đối tác khó nhằn đến đâu vẫn giữ được sắc mặt không đổi, cười nói vui vẻ.

Nhưng hễ gỡ mặt nạ xuống, bên trong đích thị là một con sói bị bỏ đói suốt 5 năm.

À không, nói chính xác hơn là một cỗ máy AI chuyên dùng để công lược Ôn Hạ mới phải.

Tất cả những đòn tấn công đều đánh chính xác vào điểm yếu chí mạng nhất, không thừa thãi một động tác nào.

Ra giêng anh đưa tôi đi xem một cổ trấn ở ngoại ô Phụng Thành. Phố cổ lát đá phiến xanh, mặt nước in bóng những bức tường trắng ngói đen, khách du lịch thưa thớt, yên bình như một bức tranh thủy mặc.

Chúng tôi ngồi uống trà trên tầng hai của một quán trà ven sông, anh đột nhiên lấy từ trong túi xách ra một kẹp tài liệu trải lên bàn.

“Cái gì đây?” Tôi hỏi.

“Vài chỗ để em chọn.”

Anh lật ra, bên trong là thông tin của vài căn nhà. Một căn ở khu phố cổ trên con đường trồng toàn cây ngô đồng, một căn view nhìn ra sông, một căn nằm ngay trong cổ trấn này, trong sân còn có giàn nho. “Làm thiết kế thì lúc nào cũng phải có một nơi thuộc về riêng mình chứ. Em thích phong cách nào để anh đi sửa lại.”

“Thẩm Trục Dã, anh đang đi mua nhà hay đi mua xe thế hả? Có ai bắt người ta chọn nhà kiểu này không, tiện tay ném luôn ba tập hồ sơ bất động sản ra?”

“Chuyện mua nhà cũng phân biệt Bên A Bên B sao?” Anh nhướng mày, vẻ mặt chuẩn bài “Sếp Thẩm” thường ngày. Anh nói quá có lý, tôi  không phản bác được.

“Anh mặc kệ mấy cái bề ngoài đó. Anh chỉ cần em chọn một căn em thích. Sau này em muốn sống ở một nơi như thế nào, anh sẽ biến nó thành thế ấy.”

Cuối cùng, chúng tôi chốt căn nhà nhỏ hai tầng có khoảng sân ở khu phố cổ, bởi anh nói nơi đó “Gần công ty em, cũng không xa công ty anh, cây ngô đồng rất đẹp, lá rụng mùa thu có thể rải kín cả một con đường”.

Cái ngày anh đưa tôi đi xem nhà, anh tựa lưng vào gốc cây ngô đồng già trong sân, tay cầm một bản phác thảo, trên đó là phương án cải tạo do chính tay anh vẽ: Sân sẽ lát sàn gỗ nhựa ngoài trời, góc Đông Nam trồng một cây quế, ban công tầng hai làm thành phòng kính (sunroom), mùa đông có thể vào đó uống cà phê đọc sách.

“Bản vẽ này anh vẽ lúc nào thế?” Tôi cầm bản vẽ, nét bút chì tuy hơi ngoệch ngoạc nhưng tỷ lệ và các đường luân chuyển được ghi chú rõ ràng rành mạch, nhìn qua là biết tay nghề của anh.

“Đêm công khai đó.” Anh nói, “Không ngủ được, nên dậy vẽ luôn.”

Tôi nhìn bản vẽ, ánh nắng xuyên qua kẽ lá ngô đồng chiếu xuống mặt giấy loang lổ, rơi trên bờ vai anh.

Lồng ngực căng tràn một thứ cảm giác không diễn tả thành lời, chua chua, mềm xèo.

“Thẩm Trục Dã.”

“Hử?”

“Nếu anh cải tạo xong căn nhà này, em muốn đóng một tấm biển gỗ nhỏ trên tường trước cửa.”

“Viết chữ gì?”

“Viết là, Tổ ấm của Ôn Hạ và Thẩm Trục Dã.”

Anh mỉm cười. Nụ cười ấy dưới ánh nắng mùa xuân trong trẻo y hệt như lần đầu chúng tôi gặp nhau hồi cấp ba, không, còn sáng hơn cả lúc đó nữa.

Vì ngày đó anh chưa từng cười như thế bao giờ. Một nụ cười bung nở không chút dè dặt, không vương chút bóng tối nào, là nhờ năm tháng của ngần ấy thời gian từng chút từng chút mài giũa ra.

Sau này căn nhà đó được sửa sang xong, trên tường trước cổng quả thực đã được đóng một tấm biển gỗ nhỏ.

Nhưng không phải là nét chữ của tôi.

Là đích thân Thẩm Trục Dã dùng dao khắc gỗ tỉ mỉ điêu khắc từng nét. Lúc khắc xong anh gọi tôi qua xem, tôi đứng trước cửa ngắm nghía hồi lâu, quay đầu lại nói: “Chữ anh cũng đẹp phết nhỉ.”

“Nói nhảm. Hồi cấp ba báo bảng toàn một tay anh lo mà.”

“Thế sao anh không viết thư tình cho em?”

“Viết rồi.” Anh lục từ ngăn kéo dưới cùng của tủ giày ở cửa ra một trang lưu bút tốt nghiệp mà anh từng thức trắng đêm sửa đi sửa lại.

Tờ giấy đã hơi ngả vàng, góc mép được vuốt phẳng phiu, cẩn thận. “Tương lai gấm vóc, ý là gì? Ý là tất cả những phong cảnh tươi đẹp nhất trên chặng đường phía trước của anh, đều có em một nửa. Chữ ‘Thẩm’ ở phần cuối cùng được khắc tới bốn lần, chắc chắn em nhìn thấy hằn sang cả mặt sau đúng không. Ngoài ra bức thư tình em viết năm mười bảy tuổi hiện giờ vẫn đang nằm trong ngăn kéo văn phòng anh đấy. Vậy là hòa nhé.”

Tôi nhận lấy tờ giấy lật sang mặt sau. Quả nhiên, mặt sau của tờ giấy có vết hằn lõm của bốn chữ “Thẩm”, nét bút chồng chéo lên nhau, lực ấn xuyên thấu qua mặt giấy.

Anh bảo đó gọi là quà tốt nghiệp. Tôi bảo đó gọi là “sĩ diện hão” (bên ngoài lạnh lùng bên trong gào thét). Anh ngẫm nghĩ một chút, gật đầu thừa nhận.

***

Và sau đó nữa, chính là đám cưới vào tháng Năm.

Đám cưới được tổ chức tại quảng trường ven sông đã chính thức đi vào hoạt động của khu phố văn hóa Lâm Giang. Cổng hoa được dựng ngay tại trung tâm quảng trường, chính là nơi mà hồi đi khảo sát chúng tôi đã từng tranh cãi nảy lửa vì bất đồng ý kiến.

Bức tường triển lãm dấu tay công nhân bến tàu mà lúc đó Thẩm Trục Dã đã chỉnh sửa từng câu từng chữ giúp tôi, nay nằm ngay phía sau chúng tôi, trở thành phông nền cho buổi lễ.

Dấu tay bằng đồng dưới ánh nắng buổi chiều tháng Năm tỏa ra luồng ánh sáng ấm áp, bên cạnh dấu tay phải có vết chai dày ở hổ khẩu, là tên ông ngoại của anh.

An An cuối cùng cũng đạt được ước nguyện làm phù dâu.

Cô mặc chiếc váy phù dâu màu champagne đứng trong phòng trang điểm, đặt hai chiếc điện thoại của tôi và Thẩm Trục Dã xếp cạnh nhau trên bàn, bày ra vẻ mặt “Tang chứng vật chứng rành rành xem ai dám chối”.

Bên trái là máy của tôi, màn hình đang sáng, bên phải là máy của Thẩm Trục Dã, ở đầu phần ghi chú vẫn còn nguyên cuốn biên niên sử chính thức của anh.

Sáu chữ “Ôn Hạ chủ động cầu hôn”, ngày giờ địa điểm nhiệt độ ghi chép đầy đủ không sót một chữ. Bên dưới vừa được thêm một dòng mới: *”Ngày 23 tháng Năm, Đám cưới. Cô ấy vẫn chưa đổi ý.”*

An An chỉ tay vào điện thoại của Thẩm Trục Dã: “Sau này hai người mà dám không hạnh phúc, toàn bộ dự án văn hóa sáng tạo của Phụng Thành này đừng hòng có Bên A nữa.”

Thẩm Trục Dã từ ngoài cửa phòng trang điểm bước vào.

Anh mặc một bộ vest đen may đo cẩn thận, chiếc cà vạt là do tôi thắt cho, hơi lệch một chút xíu. Anh kiên quyết bắt tôi phải tự tay thắt, nói rằng sau này cà vạt và nơ của anh trong tất cả các dịp quan trọng đều giao cho tôi quản lý. Tôi phải mất năm phút đồng hồ mới chật vật thắt ra được một nút Windsor tạm gọi là có thể ra ngoài gặp người ta.

Anh đi tới đứng sau lưng tôi, nhìn vào hình ảnh An An trong gương: “Sau này cô ấy rơi nước mắt cứ tính hết lên đầu tôi. Cái thể chất dễ khóc của cô ấy, tôi thầu trọn gói rồi.”

An An làm động tác “Tớ buồn nôn quá”, túm tà váy đi ra ngoài, trước khi đi còn tiện tay khép cửa lại.

Trong phòng trang điểm chỉ còn lại hai chúng tôi.

Anh đứng phía sau, hai tay nhẹ nhàng giữ lấy vai tôi, cúi đầu xuống, hôn lên đỉnh đầu tôi một cái.

Sau đó anh cúi thấp người, ghé sát mặt vào bên má tôi, lặng lẽ ngắm nhìn tôi trong cùng một khung hình phản chiếu của tấm gương.

Lông mi anh rất dài, đổ một bóng râm dày đặc dưới ánh đèn của bàn trang điểm.

“Ôn Hạ,” anh gọi, giọng nhẹ như một tiếng thở dài, “Khuôn mặt này anh nhớ từ năm 17 tuổi đến bây giờ, sau này có ngắm mỗi ngày cũng sẽ không thấy chán.”

Sống mũi tôi cay xè, nước mắt không kìm được dâng lên.

“Chẳng phải đã hứa hôm nay không được khóc sao.”

“Là do anh nói trước…”

“Anh nói là ‘Sau này rơi nước mắt tính lên đầu anh’, hôm nay vẫn được tính là ngày đầu tiên của ‘Sau này’.”

Ngón cái của anh lướt qua khóe mắt tôi, nhẹ nhàng lau đi giọt nước mắt chưa kịp rơi xuống, rồi ngón tay trượt thuận theo gò má tôi dừng lại ở vùng cằm, “Từ bây giờ chính thức nhận đơn. Ôn Hạ, chuỗi ngày về sau này mỗi ngày đều sẽ là tương lai.”

Tôi kiễng chân thơm nhẹ lên cằm anh một cái.

Bên ngoài quảng trường vang lên tiếng nhạc cưới du dương, gió sông luồn qua khung cửa sổ đang mở lùa vào phòng, hương gỗ thông trên người anh xuyên suốt mọi khoảnh khắc quan trọng nhất mà chúng tôi từng trải qua.

Từ buổi bình minh thức giấc ở khách sạn, đến cái khoảnh khắc anh kéo tôi vào lòng né tránh thanh thép rơi trên công trường, đến chiếc áo măng tô trong vòng đu quay, đến ngọn đèn đường bên bờ sông tháng Mười hai, đến những bản vẽ, đến tấm vé tàu, cho tới tận ngày hôm nay.

Mối duyên giữa tôi và anh bắt đầu từ một buổi sáng hoảng loạn như giặc tới, ở giữa bỏ lỡ nhau 5 năm trời, rồi sau đó mới bù đắp lại bằng tất thảy những điều liên quan đến đối phương.

Sau buổi tiệc tối của đám cưới, mọi người đều đã ra về hết.

Tôi và Thẩm Trục Dã vẫn ngồi trên chiếc ghế dài ở quảng trường ven sông, trước mặt là khu phố văn hóa do chính chúng tôi cùng nhau thiết kế.

Ánh đèn vàng ấm áp men theo đường viền của những công trình kiến trúc lịch sử lần lượt sáng lên. Trong hộp lưu giữ của “Bức tường tình thư đô thị” trên quảng trường, số lượng vé tàu cũ đã vượt quá một ngàn chiếc. Có cái do các cặp đôi viết, cũng có cái do những người già viết gửi cho người bạn đời đã khuất của mình.

Tấm vé tàu của chúng tôi nằm ở tít phía trong cùng, đằng sau mặt giấy viết tên hai đứa.

Gió sông hiu hiu thổi, một con tàu chở hàng đang chầm chậm xuôi dòng từ đằng xa, tiếng còi tàu vang lên thật trầm và vang vọng.

“Thẩm Trục Dã, cái câu anh nói lúc trước ‘Còn quan trọng hơn cả bạn gái’ rốt cuộc là có ý gì?”

Tôi tựa đầu lên vai anh, đem thắc mắc cất giấu từ cái buổi sáng gặp lại nhau trong khách sạn hôm đó hỏi cho ra nhẽ.

“Nghĩa là…” anh suy nghĩ một chút, “Trước khi trở thành người anh thích, em là người duy nhất dám cãi lộn với anh. Cả lớp cả trường, Thẩm Trục Dã anh nói một không ai dám nói hai, chỉ duy nhất mình em là dám bắt bẻ lại. Hồi đó bên cạnh anh chỉ toàn là sự cung kính và lấy lòng, chỉ có em là nhìn anh bằng con mắt nhìn một con người thực sự.

Thế nên anh nghĩ, anh không thể lấy cái danh xưng ‘bạn gái’ nhẹ bẫng để đặt em vào một vị trí dễ bị công kích như vậy được. Anh phải dọn dẹp sạch sẽ mớ bòng bong phiền phức kia trước đã, rồi mới danh chính ngôn thuận bước về bên em, đường hoàng cãi nhau với em cả đời.”

Tôi ngẩng đầu nhìn góc nghiêng của anh.

Ánh đèn vàng ấm áp của quảng trường hắt lên gương mặt anh, lên hàng mi, sống mũi, và đôi môi luôn khẽ mím chặt của anh.

“Vậy bây giờ anh đã dọn dẹp sạch sẽ chưa?”

“Sạch sẽ rồi.” Anh cúi đầu nhìn tôi, trong mắt phản chiếu ánh đèn, và cả tôi nữa, “Bây giờ trong thế giới của anh, chỉ có một mình Ôn Hạ là người có quyền quyết định.”

Tôi bật cười, đưa tay nhéo má anh một cái: “Thế còn tạm chấp nhận được.”

Anh kéo tay tôi trên mặt xuống, nắm gọn trong lòng bàn tay, mười ngón đan cài.

Đằng xa xa, “Bức tường tình thư đô thị” tỏa ra ánh sáng rực rỡ, tiếng chuông của nhà kho bến tàu cũ vang lên 12 tiếng, báo hiệu một ngày mới chính thức bắt đầu.

Chúng tôi vẫn còn cả một đời để cãi nhau, sửa bản thiết kế, ăn tiểu long bao trước cổng trường, và tản bộ tiêu thực trên đường phố Phụng Thành lúc rạng sáng.

Đúng là anh ấy là Bên A, nhưng trên bản hợp đồng mang tên “Quãng đời còn lại” này, chúng tôi là Bên B duy nhất của nhau.

Và đối với Thẩm Trục Dã, từ đầu chí cuối tôi chỉ có đúng một yêu cầu.

Anh phải luôn ở bên cạnh em, giống như dòng nước sông Phụng Thành, giống như những vết khắc hàng trăm năm tuổi trên bến tàu này, vĩnh viễn không bao giờ lùi bước.

Chương trước
Loading...